Đề Xuất 2/2023 # “Tôm Bay” Của Người Cơ Tu # Top 11 Like | Leparkspa.com

Đề Xuất 2/2023 # “Tôm Bay” Của Người Cơ Tu # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về “Tôm Bay” Của Người Cơ Tu mới nhất trên website Leparkspa.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

24/07/2021 08:30;    PHAN THỊ THANH LY

Mấy hôm nay trời nóng, cả nhà chỉ thèm mấy món thanh mát. Được má chỉ cho cây me bên hè nhảy lá non um tùm, lại có thêm vài trái me già, vậy là nhanh tay xách rổ ra “thu hoạch”, không quên hái trái ớt đã ngả màu đỏ và quả cà chua vườn nhà. Cũng may, trong tủ lạnh còn vài ba con cá bánh lái.

Ăn Chay Và Ăn Mặn Của Người Tu?

Tuổi trẻ đến với đạo Phật với nhiều bỡ ngỡ như người lạc vào khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ nhưng lại khó tìm lối ra. Tiết mục “Tuổi Trẻ Với Phật Pháp” đến với các bạn trẻ để chúng ta cùng tìm hiểu và thực hành Phật Pháp, hầu đạt được an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi ngay trong cuộc sống trước mặt cho bản thân, gia đình và cho mọi người quanh ta.

Kính mời quý vị và các bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Ăn chay, Ăn mặn” với các bạn trẻ (A), (B) và (C). Đây là một vấn đề mà nhiều người quan tâm đến, lại là một vấn đề hết sức tế nhị nên chúng tôi không dám tự tiện lý luận mà phải dựa vào những bài viết của hai vị sau đây: một là Tiến sĩ Victor A. Gunesekara, người Úc gốc Tích Lan, hiện là giáo sư đại học Queensland và là tổng thư ký hội Phật Giáo Queensland, Úc Đại Lợi; hai là Đại đức Thích Trí Siêu, ở Chùa Linh Sơn, Paris, Pháp quốc.

Ăn chay và ăn mặn của người tu

A: Này các bạn ơi, các bạn có biết các vị tu sĩ Phật giáo (PG) Tây Tạng ăn thịt bò không? Nghĩa là họ không ăn chay đó mà. Quý thầy tu Việt Nam mình mà thuộc Nam tông cũng vậy, ăn mặn đó! Nhưng họ chỉ ăn một bữa.

C: Bậy nào, tại sao lại như vậy được?

B: Không phải bậy đâu. Các bạn có biết không? Chúng ta thường tiếp xúc với quý Thầy tu Bắc tông, quí vị này theo truyền thống “tu hành thì phải ăn chay” nên chúng ta ngạc nhiên khi gặp những vị tu sĩ Phật giáo ăn mặn nghĩa là ăn thịt đó thôi. Thật ra khi xưa, có nhiều sự kiện được ghi lại trong đời sống đức Phật và chư Tỳ-kheo, ban đầu họ đã ăn thịt.

A: Thật vậy sao?

C: Đức Phật có cấm các thầy Tỳ-kheo ăn thịt không?

B: Thời đức Phật còn tại thế, khi đi khất thực, Tỳ-kheo được phép ăn 5 thứ thịt, gọi là ngũ tịnh nhục.

A: Đó là 5 thứ thịt gì vậy?

B: Đó là qui định về việc ăn thịt: 1. Thịt ăn mà không thấy người giết. 2. Thịt ăn mà không nghe tiếng của con vật kêu la. 3. Thịt ăn mà không nghi người ta giết vì mình và cho mình ăn. 4. Thịt của con thú tự chết. 5. Thịt của con thú khác ăn còn dư. Có chỗ người ta ghi gọn lại là ‘‘Tam tịnh nhục’’ (không thấy, không nghe, không nghi ngờ) để nói đến qui định của đức Phật về việc ăn thịt.

C: Vậy còn theo giới luật thì sao?

B: Trong giới luật của Tỳ-kheo (Pratimoksha), dù là 227 giới của Tiểu thừa hay 250 giới của Đại thừa đều không có giới nào cấm ăn thịt cả. Do đó, một vị Tỳ-kheo ăn thịt chay hay thịt mặn đều không thể xem là phạm giới được. Ngoài ra, các bạn không nghe người ta nói ‘‘ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối’’. Câu này không phải nói ăn mặn tốt nhưng là để cảnh tỉnh người ăn chay, vì nhiều người ăn chay thì sinh tâm ngã mạn, chê người không ăn chay.

A: Như vậy tại sao Phật tử Đại thừa lại có giới ăn chay?

B: Trong 2 kinh Đại thừa Lăng-già và Đại Bát-niết-bàn, đức Phật dạy đệ tử không được ăn thịt cá, vì như vậy làm mất hạt giống từ bi. Trong Kinh Phạm Võng nói về Bồ tát giới cũng có 10 giới trọng và 48 giới khinh (trong đó giới khinh thứ 3 là cấm ăn thịt). Vì vậy, ai thọ Bồ-tát giới phải ăn trường trai. Gần đây Thượng tọa Đức Niệm soạn dịch cuốn Tại gia Bồ-tát giới gồm 6 giới trọng và 28 giới khinh, trong đó không bắt buộc phải trường trai nữa mà phải giữ ít nhất là 6 ngày chay trong một tháng.

C: Như vậy, nếu ta thích ăn chay vì lòng từ bi hay giữ giới Bồ-tát thì cứ việc ăn chay, mấy ngày trong 1 tháng cũng được, ăn chay trường cũng được nhưng đừng chỉ trích hay coi thường người không ăn chay như ta, có phải không?

B: Đúng rồi, bạn nắm vững vấn đề ăn chay ăn mặn rồi đó!

A: Các bạn có biết rằng Phật tử Nam tông chỉ trích quý thầy Bắc tông ăn chay là ‘‘chạy theo Đề-bà-đạt-đa’’ không? Tại sao vậy hả?

B: Tại vì vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa yêu cầu Ngài ban hành thêm 5 giới luật của hàng xuất gia: 1. Tỳ-kheo phải sống trọn đời trong rừng; 2. Tỳ-kheo phải sống đời du phương hành khất; 3. Tỳ-kheo phải đắp y may bằng những mảnh vải rách lượm ở các đống rác hay trong nghĩa địa; 4. Tỳ-kheo phải sống dưới gốc cây. 5. Tỳ-kheo phải ăn chay suốt đời. Đức Phật tuyên bố rằng các đệ tử của Ngài được tự do hành động về 5 điều này, muốn theo hay không tùy ý.

C: Nghe nói chư Tăng và các Lạt ma Tây Tạng ăn thịt bò và đặc biệt thịt Yak (một loại bò núi rất to) phải không? Các bạn có biết tại sao không ?

B: Có một lần trong một buổi thuyết pháp, Lạt ma Thrangou Rinpoche trả lời câu hỏi “tại sao các sư Tây Tạng không ăn chay?” như sau: dân Tây Tạng giết một con Yak nuôi được 10 người trong một tháng, trong khi đó nấu một bó cải có thể làm chết biết bao nhiêu côn trùng sâu bọ mà chỉ nuôi được một người trong một bữa! Vậy thì cái nào lợi và ai sát sanh nhiều hơn!

A: Cũng có lý của họ. Tương tự, chúng ta thường nghe mấy bà nội trợ thắc mắc: ăn chay là tránh sát sanh nhưng còn chuyện xịt thuốc cho ruồi, kiến, gián, chuột v.v…  trong nhà bếp, nhà kho v.v.. chết thì làm sao đây? Đó là chưa nói làm ruộng, làm vườn, trồng cây v.v… lại còn phải xịt thuốc trừ sâu nữa!

B: Đúng vậy, sau khi nghe hết mọi lý lẽ, ăn chay hay ăn mặn là tùy ý bạn; cái chính mà người Phật tử cần lưu tâm là ăn để sống, để nuôi thân chứ không phải sống để mà ăn”.

C: Nói đúng lắm, chúng ta ai cũng nghe câu bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất nghĩa là  bệnh từ miệng vào và tai họa từ miệng mà ra vì vậy phải ăn sao cho đúng phép dưỡng sinh.

A: Thế nào là đúng phép dưỡng sinh? Nghe nói người Tây phương không phải là Phật tử họ cũng ăn chay đó, vì ăn chay có nhiều chất bổ dưỡng có phải không?

C: Phải rồi! Ăn chay rất tốt chứ, vì ăn chay là ăn các loại ngũ cốc, hoa quả, rau cải tươi, bơ sữa, fromage (cheese), đậu, mật ong, nước trái cây, nước suối v.v… là những loại thực phẩm đầy đủ chất bổ dưỡng cho cơ thể, đầy đủ sinh tố, giúp cho tâm trí bén nhạy, sáng suốt, và vắng lặng. Còn những thức ăn như thịt cá, hành tỏi, rượu, cà phê, thuốc lá, thuốc phiện v.v…  đồ hộp, đồ gia vị, đồ hóa học đều có hại cho cơ thể, làm tiêu hao năng lực, kích thích cả thân và tâm trí, làm con người mất tự chủ. Càng dùng ít càng tốt.

B: Đó chính là lý do người ta càng ngày càng ngán và sợ thịt. Đó là chưa nói ăn thịt làm cho dạ dày mau mệt, những loại dầu thực vật tốt cho cơ thể hơn là dầu động vật v.v… Ngoài ra còn phải ăn thong thả, ăn vừa đủ, đừng để quá no; phải biết ăn theo mùa, những trái cây rau quả đúng mùa thì vừa rẻ vừa tốt và bổ dưỡng.

A: Nãy giờ chúng ta chỉ nói chung về ăn chay và ăn mặn mà chưa đi sâu vào chi tiết như tại sao có những luận cứ chống lại việc ăn thịt về phương diện tôn giáo?  Nói rõ hơn là đạo Phật.

B: Trong kinh Lăng Già nói rằng chúng ta không nên ăn thịt thú vật vì vài lý do sau đây: 1. Những thú vật hiện nay có thể là bà con bạn bè với chúng ta trong những kiếp quá khứ. 2. Chính cha mẹ bà con bạn bè của chúng ta hôm nay có thể tái sanh làm thú vật trong các kiếp sau này. 3. Thịt được xem là ô uế vì sự phóng uế của thân xác. 4. Viễn ảnh bị giết khiến cho thú vật kinh hoàng. 5. Toàn bộ thịt chẳng khác gì một xác chết thối rữa. 6. Ăn thịt có thể khiến cho tánh tình thêm nóng nảy, độc ác, gợi cảm nhục dục. 7. Theo bản tánh tự nhiên, con người không phải là con vật ăn thịt.

C: Thật vậy đó, cơ thể con người giống loài ăn cỏ nhưng không hoàn toàn là loài ăn cỏ vì cấu trúc dạ dày của con người khác hẳn với loài ăn cỏ, nhưng bộ ruột dài thì giống với loài ăn cỏ mà khác với loài ăn thịt. Đó là một cơ cấu thỏa hiệp giữa loài ăn cỏ thuần túy và loài ăn thịt thuần túy; vì vậy, “con người là một loài ăn tạp”. Thực phẩm chay thích hợp cho sức khoẻ con người vì trong các thức ăn chay có các chất đạm cao để cân bằng với lượng Cholesterol dư thừa trong cơ thể. Bệnh cao Cholesterol là hậu quả tai hại của việc dùng quá nhiều sản phẩm từ động vật.

A: À, mà các bạn có biết vào thời đức Phật, các tôn giáo khác có cấm ăn thịt không?

C: Không, không phải tất cả tín đồ các tôn giáo đều bị cấm ăn thịt; bởi vì bạn không nhớ là ở Ấn Độ có tục lệ giết súc vật để tế thần linh đó sao? Chính đức Phật đã lý luận với người Bà-la-môn tế lễ khi cứu một con dê con sắp bị thọc huyết đó! Tuy nhiên, đa số tín đồ Hindu (Ấn Độ giáo) lại ăn chay, hay ít nhất họ tránh ăn thịt bò. Còn phái Kỳ-na thì “kỹ lưỡng” hơn nữa; họ không những chỉ ăn chay mà lại còn cấm ăn một số trái cây có một số sinh vật bé li ti sống trên đó như trái vải, họ cũng cấm dùng bữa sau khi mặt trời lặn vì như vậy sẽ có một số thiêu thân lao vào bếp lửa chết v.v…

B: Còn nữa, theo kinh Thánh thì sau khi tạo dựng nên Trời đất Thượng đế đã ra lệnh cho con người phải ăn rau đậu, nhưng lệnh cấm đó đã được hủy bỏ sau cơn đại hồng thủy rồi. Ở Trung Hoa thì vào năm 511 trước Tây lịch, Lương Võ Đế đã ra lệnh cấm ăn thịt và tại hầu hết các nước Tây phương và nơi tiểu lục địa Ấn Độ đã có sự chống đối việc ăn thịt các con vật cưng (pets) hay các loài bò sát.

A: Nghe nói ở Ấn Độ thời đức Phật tuy không cấm ăn thịt nhưng cũng có một số con vật không được đụng tới phải không?

C: Phải đó, ở xã hội Ấn Độ thời đó, thịt của 10 sinh vật sau đây bị cấm xử dụng; đó là: thịt người, thịt voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, beo, gấu và linh cẩu.

A: Tại sao những con vật này lại ưu tiên?

B: Mặc dù không ai nói chi tiết tại sao nhưng ngầm hiểu rằng sở dĩ có sự cấm đoán vì đã được công chúng đồng ý. Đức Phật của chúng ta thường có khuynh hướng chấp nhận những phong tục xã hội đang thịnh hành, miễn là đừng mâu thuẫn với những nguyên lý giáo pháp của Ngài.

C: Tại sao trong 10 con vật không có con bò cái? Hiện nay nó là con linh vật cấm kỵ nhất của Ấn Độ giáo đó mà!

B: Điều đó cho thấy có lẽ vào thời đức Phật, Ấn Độ giáo chưa được phát triển và sự kiện bò cái sau này mới được thừa nhận. Tuy nhiên, đối với chúng ta hôm nay việc quan trọng là qua cuộc nói chuyện này, tóm tắt cho được “tại sao Phật dạy người Phật tử phải ăn chay” và “ăn chay như thế nào mới được gọi là đúng với Chánh pháp”.

A: Vậy thì các bạn làm ơn tóm tắt lại hai trọng tâm đó đi!

B: Những lợi ích của sự ăn chay là: thân thể khỏe mạnh, tránh các bệnh nan y và làm việc được dai sức. Ăn chay giúp trí óc được sáng suốt, tánh tình thuần hậu và nhất là tập thói quen nếp sống thanh bạch, ăn uống giản dị, thực hiện hạnh “ít muốn, biết đủ” của người con Phật.

C: Còn nữa! Ăn chay đúng Chánh pháp là ăn chay mà không chấp vào chuyện này, không chê bai người không ăn chay, không “nhiều chuyện” kiêng cử đủ thứ như chén đũa, soong nồi v.v… phải để riêng làm phiền đến mọi người trong gia đình, trong tập thể… điều cốt yếu là mình mượn phương tiện ăn chay để mở rộng tâm từ.

A: Vậy các bạn có biết, thông thường người ta ăn chay mấy ngày mỗi tháng không?

B: Ăn chay 2 ngày 1 tháng thì ăn vào ngày Rằm (15 Âm lịch) và mồng Một; ăn 4 ngày thì thêm 14 và 30 tháng thiếu thì ngày 29 tức là 30 đó; 6 ngày thì thêm mồng 8 và 23; 10 ngày thì thêm 18, 24 và 28, 29 (hay 27, 28 tháng thiếu); tóm lại, nếu ăn chay 10 ngày thì vào những ngày: 1, 8, 14, Rằm, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (hay 27, 28, 29 tháng thiếu)

A&B: Tạm biệt! Tạm biệt !

Tâm Minh

Lạ Lùng Làng Nghiện Ăn ‘Tôm Bay’

“Ân rượu nếp, Kim tôm bay”, câu ca xưa vẫn thường được nhắc tới để nói về đặc sản của hai vùng đất Nghi Ân và Nghi Kim thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ai đã từng nếm rượu nếp Nghi Ân thì chắc chắn sẽ tấm tắc khen cái men rượu ở đây sao mà ngon, cay và thơm đến thế. Tương tự, món “tôm bay” của vùng đất xã Nghi Kim cũng làm cho người ta ngây ngất bởi độ béo ngậy, thơm ngon của nó. Rượu nếp Nghi Ân mà nhắm bằng mồi nhậu “tôm bay” Nghi Kim thì đúng là một sự kết hợp khó cưỡng lại nổi dù là người khó tính nhất. Món “tôm bay” chúng tôi muốn nhắc tới đó chính là cào cào – một món ăn truyền thống của người dân xứ Kim.

Dọc đường về xã Nghi Kim, chúng tôi thấy hai bên đường người mua kẻ bán cào cào tấp nập. Tò mò, thú vị trước món ăn kỳ lạ này, tôi đã đi sâu tìm hiểu và cũng được bạn đãi một bữa đặc sản “tôm bay” thật nhớ đời.

Các cụ cao niên trong xã cho biết, món ăn chế biến từ cào cào không biết có từ bao giờ, khi họ sinh ra, lớn lên đã thấy món “tôm bay” hiện diện trên mâm cơm hằng ngày của gia đình, nó được xem là món ăn truyền thống của người dân nơi đây .

Cụ Kỳ, trú tại xóm 11, năm nay 84 tuổi cho biết, khi lớn lên đã thấy dân làng rủ nhau đi bắt cào cào về ăn. Trước đây cào cào nhiều, chỉ cần mang một cái vợt ra đồng một lúc là có thức ăn ngay, thế nhưng giờ cào cào đồng đã ít đi rồi, người ta lại chuyển sang ăn cào cào xanh (hay còn gọi là cào cào sim), loại này thường sống trên các cành cây thông, phi lao gần nước.

Cũng như cụ Kỳ, những người dân xã Nghi Kim khi được hỏi thì đều trả lời là không biết món “tôm bay” có tự bao giờ.

“Có thể trước đây do đói kém nên người ta bắt về rang lên ăn. Hoặc do nạn cào cào phát triển, phá hoại mùa màng, người ta bắt ăn để giảm thiểu phá hoại hoa màu. Từ đó trở đi thấy thơm ngon nên sau này trở thành thói quen, dần dần nó trở thành món ăn truyền thống, không có nó trong mỗi bữa ăn lại thấy thiếu thiếu”, một cụ già giải thích.

Không chỉ những người quê gốc ở xã Nghi Kim mới nghiện ăn cào cào mà những người từ nơi khác đến đây sinh sống, lúc đầu còn không dám ăn nhưng khi đã thưởng thức một lần rồi thì đâm ra “nghiện” luôn.

Điển hình như ông Nguyễn Quốc Vinh (SN 1941). Ông Vinh vốn quê gốc ở Thanh Chương, nhưng đã sống ở thành phố Vinh hơn 20 năm bảo, lúc đầu thấy họ bán cào cào làm thức ăn cũng thấy làm lạ và không dám ăn. Thế nhưng, một bữa có người bạn trong xã mời đến nhậu. Hôm đó chủ nhà giới thiệu đồ nhắm là món “tôm bay”, ông mới ngã ngửa, không ngờ nó ngon đến vậy. Kể từ đó, ông cũng nghiện ăn, nhậu món này luôn.

Giờ đây món “tôm bay” được xem là đặc sản của người dân Nghi Kim, nó không chỉ là thức ăn hàng ngày mà còn là món tủ dùng để tiếp khách quý của các gia đình.

Kiếm tiền triệu từ những con cào cào

Vào độ chớm Thu, người dân xã Nghi Kim lại tay bì, tay sào lên đường đi săn cào cào để về làm thức ăn.

Từ việc bắt cào cào về làm thức ăn trong mỗi gia đình, dần dần do nhu cầu của xã hội, ở xã Nghi Kim còn ra đời một nghề mới: nghề săn cào cào.

Trước đây, cào cào còn nhiều thì đồ nghề của các thợ săn chỉ là một cái vợt, bao tải là có thể hành nghề được. Thế nhưng, do khí hậu, môi trường cào cào ngày càng ít đi, người ta phải đi săn vào ban đêm mới được nhiều. Và đồ nghề lúc này nhất thiết phải có đèn pin, một cây sào có móc sắt, bao tải dùng đựng chiến lợi phẩm cào cào, có người còn công phu lấy can nhựa loại 5 lít đục lỗ để đựng. Từ khi có cái nghề mới, nhiều gia đình ở xã Nghi Kim kiếm được hàng chục triệu đồng mỗi mùa săn cào cào, đây quả là một con số ngạc nhiên.

Thời điểm vào mùa săn cào cào, nhiều xóm ở Nghi Kim cả làng kéo nhau đi bắt. Theo kinh nghiệm, loài cào cào xanh mà người dân hay bắt thường sống ở vùng đất cát, độ ẩm cao, trên các cây như phi lao, sắn, thông… Vào buổi đêm, họ kéo nhau đi từng đoàn đến bãi phi lao các xã miền biển của TX. Cửa Lò, khi chỗ này cào cào ngày càng ít, họ kéo nhau sang tận các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ… của tỉnh Hà Tĩnh để săn cào cào.

Mỗi đêm như thế một người có thể bắt được từ 20 đến 30kg, thậm chí có lúc cao điểm, một đêm bắt được 40kg cào cào là chuyện bình thường. Với giá hiện nay một kg cào cào bán từ 30.000 – 50.000 đồng thì mỗi đêm thợ săn cào cào cũng bỏ túi chừng 1 triệu đến 1,5 triệu đồng.

Tuy nhiên, số lượng cào cào bắt được không hề sợ ế hàng, có bao nhiêu đều bán được hết.

Diện kiến thợ săn cào cào cừ khôi

Khi nhắc đến thợ săn cào cào, tất thảy người dân trong xã Nghi Kim đều biết đến Ngô Long, một thợ săn cào cào cừ khôi ở xã. Hơn chục năm nay, cũng nhờ cái nghề tay trái này mà anh đã có tiền làm nhà, mua sắm được nhiều vật dụng cho gia đình.

Theo kinh nghiệm của anh Long, thợ săn cào cào cũng phải hội đủ nhiều yếu tố: nhanh nhạy, quan sát tốt, chịu khó, tỉ mỉ và phải hết sức khéo léo. “Không phải ai cũng bắt được hàng chục kg cào cào mỗi đêm đâu, có người đi cả đêm chỉ được một vài cân là cùng, nói vậy để chứng minh cái nghề săn cào cào cũng không phải đơn giản như nhiều người thường nghĩ. Cào cào về đêm không thấy gì nên nó không bay.

Khi phát hiện cành cây có nhiều cào cào đậu thì dùng cây sào có móc sắt vít cành cây xuống một cách nhẹ nhàng sau đó tóm gọn chúng như thế mới không làm cào cào giật mình bay loạn xạ sẽ không bắt được cả bầy”, anh Long chia sẻ kinh nghiệm.

Nhờ những kinh nghiệm “chinh chiến” qua hơn 10 năm săn cào cào mà anh Long được xem là tay thợ bậc nhất ở vùng đất này.

Cũng theo các thợ săn, kiếm tiền từ việc săn cào cào cũng dễ nhưng luôn tiềm ẩn đầy hiểm nguy. Xòe đôi bàn tay có nhiều vết trầy xước cho tôi xem, thợ săn Trần Xuân Bách, trú tại xóm 11 cho chúng tôi biết đó là hậu quả của việc săn cào cào. Những chú cào cào khi bị bắt đưa càng búng loạn xa, cào cấu khắp các ngón tay của người thợ săn, những cái móc nhỏ xíu, sắc nhọn ở đầu hai càng liên tục đâm sâu vào lòng bàn tay tạo ra những vết xước.

“Có khi vừa kéo cành cây xuống thì bỗng xuất hiện một con rắn lao xuống, nếu không tránh kịp thì có lẽ bị rắn cắn rồi, rồi còn rất nhiều rủi ro khác như quần áo lúc nào cũng nghe mùi khó chịu, đi ban đêm rất nguy hiểm…”, Bách chia sẻ.

Bí quyết chế biến món “tôm bay”

Để cào cào trở thành đặc sản, khâu chế biến cũng rất quan trọng, góp phần làm cho món “tôm bay” hấp dẫn được người thưởng thức nó. Cái món cũng lắm công phu và nhiều công đoạn, người làm phải tuân theo những trình tự nhất định.

Theo chị Hằng (vợ anh Long) chia sẻ bí quyết chế biến món tôm bay, cào cào sau khi bắt về sẽ được cắt bỏ phần khuỷu chân trước, chân sau (không bỏ phần đùi), rồi cắt cánh, rút bỏ ruột.

Khi xong phần làm thô thì đến lượt cào cào phải được làm sạch bằng cách ngâm nước muối khoảng 5 phút, sau đó vớt ra rửa sạch bằng nước lã. Tiếp tục đem cào cào lên luộc sôi khoảng 1 phút thì vớt ra đem trộn với lá chanh, sả, ướp khoảng 3 phút.

Đồng thời lúc này cho dầu vào chảo, chiên giòn lên, khi nào thấy cào cào chuyển sang màu vàng thì bỏ gia vị, ớt, tiêu, hành tăm, mật vào rim khô. Đặc biệt, để làm cho món “tôm bay” được ngon, chắc giòn và dai người ta bỏ thêm một ít nước dưa muối hoặc nước cà muối. Khi đó, món “tôm bay” mới thực sự hấp dẫn.

Nếu ai đã từng thưởng thức một lần đặc sản cào cào của xứ Kim chắc không thể nào quên được mùi vị thơm lừng, ăn rất ngon, giòn, đặc biệt là rất béo. Theo người dân ở đây, cả cái vùng này, gia đình nào cũng nghiện món ăn dân dã này.

Những người xa quê lâu ngày trở về thăm gia đình, người thân đều đòi cho được mẹ chuẩn bị cho món tôm bay để thỏa mãn cơn thèm khát. Rồi khi đi xa, họ cũng không quên mang theo một vài cân cào cào đã qua chế biến thô ướp lạnh đem đi làm quà. Họ xem đó là đặc sản quý hiếm dùng để biếu những người mình yêu quý.

Chuyện Đời Thăng Trầm Của Chuyên Gia Ẩm Thực Cẩm Vân Vừa Xuống Tóc Đi Tu

Hay tin chuyên gia ẩm thực Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân, pháp danh Diệu Tịnh, xuống tóc xuất gia tại một ngôi chùa ở quận 12, chúng tôi nhiều người không ngạc nhiên mà còn chúc mừng cô đã thực hiện được tâm nguyện của mình ở đời này.

Chuyên gia ẩm thực Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân trước và sau khi xuống tóc.

Hình ảnh cô xuất hiện trong các chương trình hướng dẫn ẩm thực, lúc nào cũng mang dáng dấp như một “bà tiên” với mái tóc bạch kim, dịu dàng phúc hậu, nụ cười nhẹ nhàng luôn hiện diện trên gương mặt.

Ít ai biết cuộc đời cô đã khóc nhiều, thăng trầm cũng nhiều. Để rồi mới đây, khi xuất hiện với một hình tướng mới – người xuất gia, khi cô chạm được vào ước nguyện từ lâu của mình thì ở cô tỏa rạng niềm bình an, nhẹ tênh.

“Ông Phật trong lòng tôi là ông Phật trên cao. Để mình đảnh lễ và kính trọng”. Đó là những ngày còn bé khi được theo mẹ đi lễ chùa, được mẹ hướng dẫn lễ Phật, cô bé Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân đã thấy Phật như vậy.

Từ bé không thích ăn thịt, không biết ăn cá, thậm chí cô từng thà chịu đòn của bố, chứ nhất quyết không ăn thịt cá. Khi học xa nhà, bố mẹ gửi trường dòng, “là một Phật tử được gửi vào trường dòng”, cô kể mình hát thánh ca rất hay, đọc kinh thánh vèo vèo, đi nhà thờ đều như những con chiên ngoan đạo.

Lớn hơn một chút cô lập gia đình với một người có tín ngưỡng Ki-tô, cô đi nhà thờ được 2 năm rồi không đi nữa, trong thời gian ấy “tôi lén lén đi chùa, thấy thích đi chùa, bắt đầu thích sống hàng ngày với những điều Phật dạy”.

Năm 1989, khi đang là cô giáo dạy Văn, với đồng lương không đủ trang trải cuộc sống gia đình, cô nghĩ cách hướng dẫn thêm nấu ăn, đan len, móc áo, thêu rua, may gia công… xoay xở đủ các nghề miễn là có thể kiếm được tiền nuôi con. Năm 1990, cô nghỉ dạy để đưa con trai út sang Úc chữa bệnh tim.

Khi trở về nước thì nợ nần chồng chất vì tiền vay chữa bệnh cho con. Nhờ khéo tay, thích làm những việc tỉ mỉ, cô tự tìm tòi dạy bổ túc, rồi đi may thuê, làm bánh… Sau đó, cô xin dạy làm bánh cho Trung tâm Dạy nghề Tân Bình. Ở đây, cô dành hết tâm huyết cho những giờ dạy về nghệ thuật nấu ăn. Năm 1993, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh cần một giáo viên có kinh nghiệm dạy nấu ăn cho chương trình “Khéo tay hay làm” và Trung tâm đã giới thiệu cô tham gia chương trình này.

“Tôi là một người phụ nữ yếu đuối vì được bố mẹ chăm sóc kỹ quá, nên khi gặp khó khăn không biết bám víu vào đâu, nhưng sợ con đói con khổ, nên phải làm, phải bám vào các con. Điều quan trọng nữa là mình sống cho bố mẹ không buồn, người xung quanh không chán. Đừng bao giờ trông đợi vào một người khác, người ta có lòng họ cho gì mình nhận cái đó, nhưng mình phải đứng trên đôi chân của mình”.

Ngoài ra, khi đi chùa cô cũng thường xuyên hỏi quý thầy “tại sao con khổ vậy?, được trả lời là vì là cái nghiệp, “nghiệp thì phải trả cho hết, mà mình vui thì trả nhanh, mà mình không vui thì trả hoài và cực lắm”, nên cô hoan hỷ trong các hoàn cảnh bất như ý.

Trong một buổi chia sẻ ở Pháp viện Minh Đăng Quang cho khóa tu của người trẻ tháng 8-2018, cô bày tỏ, với tuổi 66, có 2 người con, trong cuộc đời cô có 2 nỗi đau lớn, đầu tiên là lúc con út cô đi mổ tim, “có thể nói cái đó là hãi hùng đối với tôi”. Nỗi buồn đau thứ 2 trong đời cô là lúc con trai đầu của cô mất, cô kể, người con trai mất lúc 35 tuổi, là người rất dễ thương khỏe mạnh, không có bệnh.

Những ngày tháng đầu của biến cố lớn trong cuộc đời đó, cô như điên loạn, không làm chủ được bản thân, ngày nào cũng đi ngoài đường nhưng không biết đi đâu.

TT.Thích Giác Dũng thực hiện nghi thức thế phát (xuống tóc) cho cô giáo dạy Văn thời phổ thông trung học của mình – là Phật tử Diệu Tịnh Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân

Khi đến sông Hằng, nhìn đời sống thực nơi đây, và chứng kiến cảnh người ta nhúng các trẻ sơ sinh xuống dòng sông thiêng cũng như hỏa thiêu người đã chết, “tự nhiên tôi thấy sinh tử vô thường quá”, cô kể lại.

Khi trở về nhà sau chuyến hành hương, đứng trước bàn thờ con, cô nghiệm ra “duyên nợ của mẹ con tôi đủ rồi nên anh mới đi”, anh đi vui vẻ, anh cười khi anh đi, “tại sao tôi cứ khóc”, theo đó, nỗi đau giảm dần, chẳng có nỗi đau nào làm cho cô đau được hơn nữa.

“Sau khi thấm hiểu những lời dạy của Đức Phật bằng chính cuộc đời mình đã trải qua, tôi nhận thấy những cái vô thường, những cái hữu duyên mình gặp trong cuộc sống là… bình thường”.

Cô cũng từng “thú tội, rằng có khi cô đứng trước cả ngàn sinh viên, được mời nói chuyện ở nhiều nơi, gặp học trò, gỡ rối bế tắc cho họ hay lắm. Nhưng với bản thân, cô không biết vì sao mình bế tắc đến thế, bế tắc đến mức ngộp thở, và có lúc chỉ có một suy nghĩ duy nhất là phải chết, vì nghĩ quẩn rồi quyết định “chết cho nó xong”.

“Sau khi từ cái chết trở về, tôi ý thức được mọi người thương tôi nhiều lắm, trước đó tôi không cảm nhận được điều này…”.

“Khi xuất viện về ở nhà nằm trên giường nhìn thấy câu ‘ta đầy khuyết điểm sao bực bội khuyết điểm người’, tôi cũng ngạc nhiên, vì câu này ngày nào cũng nhìn thấy mà sao tôi không thấm. Mình chưa chắc đã hay mà sao có tí hạt bụi mình đã làm to chuyện. May mà lòng nhân ái, tình yêu thương của những người yêu mình kéo mình dậy. Nên bây giờ tôi sống với tình yêu tha nhân, tôi cảm thấy cuộc đời đẹp lắm…”, cô kể.

Với 25 năm gắn bó với việc hướng dẫn ẩm thực, đã có gần 90 đầu sách, hơn 2.000 món ăn được giới thiệu, giúp những người nội trợ, nhà hàng, rất nhiều về nấu ăn nhưng niềm vui thực sự, cô bộc bạch: “Cái làm tôi hạnh phúc nhất là làm 260 món ăn chay ở chương trình món chay của Diệu Pháp Âm. Chỉ mong ngày càng đưa món ăn chay đến được nhiều người hơn. Và bây giờ là ý Phật, Phật muốn tôi nấu ăn”.

“Bây giờ với tôi những điều Phật dạy rất thực tế, Phật ở trong tâm, Phật ở khắp mọi nơi. Cuộc đời ai cũng có lúc bị mê mờ. Được làm người đó là phước báu, biết được Phật pháp là một phước báu. Giờ tôi mới thấy nghĩa vụ của mình là con người thì sinh ra phải sống xứng đáng với tư cách là một con người”.

Góp nhặt nhiều đời…

Là một trong những vị có nhân duyên làm việc với chuyên gia ẩm thực Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân trong việc mở các lớp hướng dẫn ẩm thực chay ba miền và các khóa tu tại Pháp viện Minh Đăng Quang, cũng là người tham dự lễ xuất gia của cô, ĐĐ.Thích Minh Liên, trụ trì tịnh xá Ngọc Bình, Q.2, chia sẻ: “Cô Cẩm Vân học Phật là sự góp nhặt nhiều từ đời sống kinh nghiệm trong trường đời, kinh nghiệm từ bản thân, đời sống gia đình, trong quá trình đi dạy… Đó là những trải nghiệm rất phong phú về đời sống tinh thần, là cách cô học Phật. Nhờ chính những trải nghiệm đó là bài học làm cô ngộ ra lẽ sống cuộc đời nhiều hơn, hiểu thêm, thấm hơn sự học Phật. Mừng cho cô đã chọn con đường tu”.

Chuyên gia ẩm thực Cẩm Vân xuất gia ngày 21/5/2019 tại một ngôi chùa ở quận 12, chúng tôi Trước đó, bà đã quy y Phật với pháp danh Diệu Tịnh và ăn chay trường.

Theo Nhã An/Giác ngộ Online

Bạn đang đọc nội dung bài viết “Tôm Bay” Của Người Cơ Tu trên website Leparkspa.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!