Các Phương Pháp Chế Biến Món Ăn

--- Bài mới hơn ---

  • Nấu Ăn Trong Tiếng Tiếng Pháp
  • Món Ăn Trong Tiếng Tiếng Pháp
  • Cách Gọi Món Ăn Bằng Tiếng Pháp
  • Download 30+ Sách Dạy Nấu Ăn Pdf
  • Nghề Nấu Ăn Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Các phương pháp chế biến món ăn

     Phương pháp chế biến món ăn bằng đun trong nước

    Nguyên liệu được bỏ vào nước, được đun nóng

    cho tới khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến. Quá trình truyền

    nhiệt diễn ra như sau: lửa truyền nhiệt cho dụng cụ, dụng cu truyền

    nhiệt cho nước. Nước hấp thu nhiệt và truyền nhiệt làm chín nguyên liệu.

    Môi trường truyền nhiệt để làm chín nguyên liệu là nước sôi và một phần

    hơi nước sôi.

    Nhiệt độ môi trường luôn chủ yếu là 100oC ở

    điều kiện áp suất bình thường và cao hơn 100oC nếu nấu trong nồi áp

    suất. Thời gian làm chín bằng đun trong nước phụ thuộc vào kích thước

    nguyên liệu, đặc điểm, tính chất của mỗi loại nguyên liệu.

    Sản phẩm của phương pháp này có các đặc điểm sau:

    – Gia vị ngấm đều và có thủy phần cao do hút nước trong quá trình chế biến.

    – Màu sắc nguyên liệu biến đổi ít, do nhiệt trong quá trình đun nấu không cao (hạn chế bởi 100oC).

    – Cho phép chế biến những món ăn đòi hỏi độ mềm, nhừ.

    1. Luộc

    Luộc là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng

    nhiệt, trong quá trình đun nấu nguyên liệu tiếp xúc một phần hay hoàn

    toàn trong nước. Các món luộc có thể sử dụng gia vị cho thêm trong khi

    luộc để tăng thêm hương vị cho sản phẩm. Nguyên liệu đã được sơ chế được

    cho vào nước lạnh, nước nóng hay nước sôi, tùy từng loại nguyên liệu,

    đun tới khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến.

    – Nguyên liệu dùng để luộc tương đối

    phong phú, nguyên liệu non thời gian luộc nhanh, nguyên liệu già thời

    gian lâu hơn, thực tế thường chọn nguyên liệu có độ già vừa phải. Sơ chế

    nguyên liệu thịt gia súc pha miếng to, gia cầm thường để nguyên, thủy

    sản như cá để nguyên, nếu to quá thì cắt khúc. Các loại rau để nguyên

    hay cắt khúc, củ giàu tinh bột như (khoai lang, khoai tây, khoai sọ,

    sắn…) để nguyên. Các loại quả như bí, bầu, su hào, củ cải… thái

    miếng đều nhau.

    – Lượng nước dùng để luộc phải luôn

    ngập nước. Nước luộc rau có tỷ lệ 2,5-4 lít / 1kg tùy theo nhu cầu sử

    dụng nước nhưng nói chung nước phải ngập nguyên liệu. Nước luộc thịt gia

    súc, gia cầm, cá vừa đủ ngập nguyên liệu. Để luộc các loại củ giàu tinh

    bột như khoai, sắn chỉ cần 0,6-0,7 lít / 1kg, nguyên liệu dễ dàng chín

    do tính hồ hoá của tinh bột cao.

    – Nhiệt độ chế biến thường cao, nước

    được đun sôi đều, liên tục. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào đặc điểm nguyên liệu

    nhiệt độ chế biến có khác nhau. Đối với nguyên liệu lâu chín sau khi

    sôi thường phải hạ nhiệt để nguyên liệu chín dần vào trong, đảm bảo bên

    trong chín mà bên ngoài không bị nát. Nguyên liệu thực vật nhanh chín

    nên duy trì đun sôi đều liên tục trong suốt thời gian chế biến.

    – Thời gian chế biến tương đối nhanh, phụ thuộc vào tính chất, kích thước và trạng thái của nguyên liệu khi đem vào chế biến.

    – Sản phẩm chín mềm hoặc chín tới,

    không nhũn, màu sắc biến đổi ít. Sản phẩm thường có thủy phần cao.

    Nguyên liệu sau khi luộc có thể sử dụng trực tiếp hoặc chế biến các món

    ăn khác. Trong ăn Á các nguyên liệu luộc ăn kèm cùng nước chấm phù hợp

    với từng loại nguyên liệu. Trong ăn Âu nguyên liệu luộc ăn kèm với thức

    đệm hoặc xốt.

    2. Nấu canh

    Nấu canh là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng nhiệt nhận từ nước sôi, nguyên liệu ngập hoàn toàn trong nước khi nấu. Canh là món ăn lấy cả cái và nước. Có thể cho thêm gia vị, nguyên liệu phụ tùy thuộc vào từng loại canh. Nguyên liệu động vật bỏ vào từ lúc nước lạnh, thủy sản từ lúc nước sôi, thực vật vào nước sôi đã có gia vị cấp nhiệt đều đến khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu.

    – Nguyên liệu như gia súc, gia cầm

    thường sử dụng phần thịt nạc, thái mỏng, thái sợi hoặc băm nhỏ để chất

    ngọt tiết nhiều vào trong nước. Thủy sản thường là cua, hến, trai… và

    các loại cá nên chọn loại nhiều nạc, ít tanh. Tùy từng loại cụ thể mà có

    cách xử lý khác nhau. Các loại rau ăn lá thường thái khúc hoặc thái

    nhỏ, các loại củ thường thái chỉ, thái lát mỏng.

    – Lượng nước để nấu canh thường nhiều hơn cái, có thể dùng nước lạnh hoặc nước dùng để nấu canh.

    – Nhiệt độ nấu canh thường duy trì sôi mạnh hay sôi vừa.

    – Thời gian chế biến tương đối nhanh.

    – Sản phẩm nấu canh thường có màu sắc, mùi vị đặc trưng của mỗi loại canh, vị ngon, ngọt của các loại nguyên liệu đem nấu.

    3. Chần, nhúng, dội

    Chần, nhúng, dội là phương pháp làm chín

    nguyên liệu bằng nhiệt nhận từ nước sôi trong thời gian ngắn. Nguyên

    liệu sau khi đã sơ chế bỏ vào nước sôi, đảo đều cho nguyên liệu tiếp xúc

    đều với nước hoặc dội nước sôi vào nguyên liệu đến khi nguyên liệu chín

    đạt yêu cầu chế biến.

    – Nguyên liệu dễ chín hoặc nhanh

    chín. Nguyên liệu động vật chọn loại non, mềm, nạc như (tim, gan, bầu

    dục). Nguyên liệu thực vật chọn loại bánh tẻ, ít xơ, nhanh chín. Nguyên

    liệu được cắt thái nhỏ, mỏng để dễ chín và chín đều.

    – Lượng nước sử dụng phải nhiều để

    khi bỏ nguyên liệu vào nhiệt lượng của nước giảm đi không đáng kể, không

    ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm (Giảm dinh dưỡng, hay bị dai do

    chế biến lâu).

    – Nhiệt độ khi chần, nhúng, dội luôn luôn sôi mạnh, đều liên tục.

    – Thời gian sản phẩm tiếp xúc với nước sôi rất nhanh khoảng một vài phút hay chỉ vài chục giây.

    – Sản phẩm chần, nhúng, dội chín tới,

    hoặc chín tái, ăn giòn. Màu và mùi vị của nguyên liệu biến đổi ít. Sản

    phẩm có thể sử dụng ngay hay chế biến tiếp.

    4. Ninh, hầm

    Ninh, hầm là phương pháp chế biến làm chín

    nguyên liệu bằng nước trong thời gian dài, nguyên liệu chín mềm, nhừ.

    Món ninh chủ yếu là lấy nước thường được sử dụng làm nước dùng cho các

    món Á, Âu. Hầm được dùng chủ yếu để lấy nước dư cho chế biến xốt Âu.

    Nguyên liệu được sơ chế cụ thể tùy theo mỗi loại, được bỏ vào nước lạnh

    (xương thịt gia súc, gia cầm), nước sôi (thủy sản), đun sôi, hớt bọt rồi

    giảm nhiệt, đun sôi nhẹ tới khi các nguyên liệu chín đạt yêu cầu thì

    lọc lấy nước trong, đun sôi lại, nêm gia vị chờ chế biến tiếp. Gia vị

    thơm được xử lý, cho vào trong quá trình nấu.

    – Nguyên liệu để ninh, hầm khá phong

    phú. Nguyên liệu động vật bao gồm: gia súc, gia cầm, cá… Nguyên liệu

    thực vật bao gồm các loại củ giàu tinh bột, các loại rau, một số nguyên

    liệu khô và gia vị. Món ninh, hầm có thể nấu từ một loại hay nhiều loại

    nguyên liệu. Các gia vị thơm được sử dụng làm tăng thêm chất lượng cảm

    quan của món ăn như hành củ khô, gừng, hoa hồi, thảo quả, quế chi, nụ

    đinh, lá nguyệt quế… Thịt pha miếng to, xương chặt miếng, xương ống

    thì đập dập. Củ thái khối hay vát móng lợn. Món ninh cắt thái to hơn món

    hầm. Món ninh nguyên liệu thường được rửa sạch trước khi nấu để tránh

    làm nước dùng bị vẩn đục, món hầm nguyên liệu có thể được xào qua.

    – Lượng nước nhiều hơn cái do nhu cầu

    lấy nước của món ninh là chủ yếu. Tỷ lệ cái và nước món ninh là 1/8 hay

    1/10, món hầm tỷ lệ 1/2 hay 1/3.

    – Nhiệt độ chế biến thường chia 2

    giai đoạn. Giai đoạn đầu đun sôi, hớt bọt rồi đun nhỏ lửa, đối với món

    ninh việc hớt bọt đảm bảo cho nước dùng trong, không bị đục. Giai đoạn

    sau đun nhỏ lửa để nguyên liệu chín dần vào trong đạt đến độ cần thiêt.

    – Thời gian ninh, hầm thời gian kéo

    dài tùy theo từng loại nguyên liệu. Ví dụ: Ninh xương trâu, bò thời gian

    từ 8-10h; xương lợn, gia cầm từ 3-4h; cá từ 1,5-2h; rau củ 1-1,5h. Thời

    gian ninh lâu hơn hầm.

    – Sản phẩm đối với món ninh yêu cầu

    nước phải ngọt, trong, không đục, xương phải dóc thịt, nước dùng thơm

    mùi của các gia vị cho vào khi đun nấu. Đối với món hầm nhu cầu lấy cái

    là chủ yếu nước ít, hơi sánh; nguyên liệu chín mềm, nhừ, không nát,

    không bã (do các chất dinh dưỡng chuyển vào nước). Các món hầm nguyên

    liệu thường được tẩm ướp qua nên sản phẩm có màu, hương vị hấp dẫn. Sản

    phẩm món hầm sử dụng ngay, món ninh thường sử dụng chế biến tiếp.

    5. Kho, rim

    Kho và rim là phương pháp làm chín nguyên liệu

    bằng nước có gia vị tạo màu, có mùi, vị đặc trưng, sản phẩm chín mềm

    nhừ, có độ mặn cao. Nguyên liệu được xếp vào dụng cụ, (nguyên liệu động

    vật có thể được xào, rán qua). Gia vị cần thiết kết hơp với nước, gia vị

    tạo màu rồi cho vào nguyên liệu đun sôi kỹ giảm nhiệt độ để nguyên liệu

    chín mềm cạn hoặc còn nước sánh.

    – Nguyên liệu để kho, rim là động vật

    như: cá, tôm, thịt; nguyên liệu thực vật như củ cải, su hào, dưa cải;

    gia vị như: riềng, mẻ, mắm tôm, nghệ, gừng, ớt nước dừa, sả… Nguyên

    liệu động vật thái to (thịt) hay cắt khúc (cá), nguyên liệu thực vật

    thái khối to. Nguyên liệu đông vật có thể ướp gia vị, cá có thể rán

    trước. Các món kho có thể sử dụng nhiều nguyên liệu động vật hoặc kho

    lẫn nguyên liệu thực vật, các món rim chỉ dùng một loại nguyên liệu.

    – Lượng nước trong các món kho xăm xắp; rim ít hơn.

    – Nhiệt độ chỉ cần sôi nhẹ tới khi nguyên liệu chín mềm.

    – Thời gian chế biến các món kho thường lâu khoảng 1-2 h, rim từ 10-25 phút.

    – Sản phẩm kho và rim thường có màu

    vàng cánh gián, tới màu nâu thẫm, vị hơi mặn, nguyên liệu chín mềm,

    nguyên miếng. Món kho độ mặn cao hơn rim, nước kho thường ít hơn rim.

    Kho khô thường áp dụng với nguyên liệu có mùi tanh như cá. Kho còn nước

    sánh như thịt lợn kho tầu, thịt bò kho gừng…

    6. Om

    Om là phương pháp làm chín bằng nước có sự

    tham gia của gia vị chua, có mùi thơm của gia vị đặc trưng, nguyên liệu

    chín mềm. Nguyên liệu sơ chế cụ thể tùy theo từng loại, ướp gia vị, xào

    hoặc rán qua rồi xếp vào dụng cụ, thêm nước dùng hoặc đun sôi nước pha

    các loại gia vị vào, đun nhỏ lửa tới khi nguyên liệu chín mềm, nước xốt

    sánh.

    – Nguyên liệu om thường là nguyên

    liệu động vật như: thịt, cá, lươn… Nguyên liệu chọn những phần thịt

    mềm, để nguyên hoặc pha miếng đều nhau.

    – Lượng nước dùng để om tương đối ít thường lấy nước ướp nguyên liệu ban đầu.

    – Nhiệt độ đun nấu chỉ cần sôi nhẹ để nguyên liệu chín tới và ngấm gia vị.

    – Thời gian đun nấu nhanh vì nguyên liệu đã được xào, rán qua, chất lượng nguyên liệu loại non mềm, dễ chín.

    – Sản phẩm om chín mềm, không nát, có ít nước sánh. Vị hơi chua dịu, nổi màu và mùi thơm của gia vị đặc trưng

    – Sản phẩm om chín mềm, không nát, có ít nước sánh. Vị hơi chua dịu, nổi màu và mùi thơm của gia vị đặc trưng

    Nguồn ” Sưu Tầm”

    Phần mềm quản lý mầm non KIDSOFT luôn cập nhật những tính năng mới, những sáng tạo của các đầu bếp hàng đầu trong nước đẻ làm các món ăn đầy đủ dinh dưỡng và xây dựng thực đơn ăn cho các cháu phong phú hơn…

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pcs Là Gì? Sự Bùng Nổ Của Các Phương Tiện Truyền Thông Cá Nhân Pcs
  • Tên Các Loại Gia Vị Trong Tiếng Trung
  • Tsp – Tbsp – Cup Là Gì? 1 Tsp – 1 Tbsp – 1 Cup Bằng Bao Nhiêu Gam, Ml?
  • Cách Nấu Kẹo Cu Đơ Đúng Chuẩn Người Hà Tĩnh
  • 7 Cuốn Sách Nấu Ăn Keto Tốt Nhất Để Mua Trong Năm
  • Các Phương Pháp Làm Chín Thức Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẹo Sử Dụng Rượu Nấu Ăn Và Những Lưu Ý Từ Đầu Bếp Chuyên Nghiệp
  • Tiểu Sử Lý Tử Thất
  • Bí Quyết Luộc Bánh Chưng Xanh Ngon Đẹp Mắt
  • Học Nấu Ăn Mở Quán Ăn Vặt Kiếm 100 Triệu Mỗi Tháng
  • Lớp Học Nấu Ăn Vặt Nổi Tiếng Hà Nội
  • Nói đến nấu ăn, chúng ta không thể không nói đến các kỹ thuật làm chín thức ăn bằng nhiều phương pháp.

    Khái niệm chung: Kỹ thuật làm chín là làm cho nguyên liệu chín, bổ, hợp vệ sinh, có mùi vị thơm, ngon.Tạo điều kiện cho cơ thể tiêu hoá và hấp thụ 1 cách dễ dàng.

    Phương pháp làm chín được chia làm những cách như sau:

    1. Phương pháp đun nóng ướt: Chia làm 2 loại:

    a) Làm chín bằng nước: Có 8 phương pháp:

    – Luộc

    – Nấu canh

    – Ninh

    – Hầm (nấu)

    – Chần, nhúng, dội

    – Kho

    – Rim

    – Om

    b) Làm chín bằng hơi nước: Có 4 phương pháp:

    – Hấp

    – Đồ

    – Tần

    – Tráng

    2. Phương pháp đun nóng khô: Chia làm 2 loại:

    a) Làm chín bằng chất béo: Có 3 phương pháp:

    – Rán

    – Quay

    – Xào

    b) Làm chín không bằng chất béo: Có 5 phương pháp:

    – Quay

    – Nướng

    – Rang

    – Vùi

    – Thui

    1. LUỘC

     Là phương pháp làm chín bằng cách bỏ thực phẩm ở thể trạng khối lượng nguyên cả con vào nước ( nước sôi hay nước lã ) rồi đun trong thời gian tương đối ngắn với độ nhiệt trung bình của lửa để làm thực phẩm chính tới hay chín mềm. Các món luộc thuộc loại món ăn phổ thông, chế biến đơn giản, nhưng cũng có món trong các bữa ăn thịnh soạn lại được chế biến từ món luộc. Mỗi món luộc lại cần một thứ nước chấm phù hợp và ăn cái là chính. Còn nước luộc ăn riêng thay canh hoặc làm nước dùng để nấu các món khác. 

    Phương pháp luộc có thể áp dụng với hầu hết các loại nguyên liệu là động vật hay thực vật. Khi luộc xong thành phẩm phải đạt được những yêu cầu: 

    + Màu sắc:

    – Thịt phải trắng(thịt bò đừng nên luộc).

    – Rau phải xanh

    – Nước phải trong(chú ý vớt bọt).

    + Mùi vị : Giữ được mùi vị đặc trưng của thực phẩm.

    + Ðộ chín:

    – Thịt chín mềm, không dừ, không dai.

    – Thủy sản chín tới.

    – Rau lá chín tới.

    – Rau củ chín mềm

    – Củ có bột chín bở

    + Nước chấm: không mặn ngắt

    Muốn đạt được yêu cầu trên, cách luộc nói chung là :đun sôi nước, cho muối, khoảng 20 g/lít nước, cho gia vị thơm ( nếu có ) rồi bỏ thực phẩm vào luộc cho chín là được, vớt ra để ráo. Cần chú ý chọn nguyên liệu non, mềm, dễ chín. Khi luộc phải đun đều lửa và liên tục từ lúc bỏ nguyên liệu vào luộc chín đến khi ra thành phẩm.

    2. NẤU CANH

    Là cho thực phẩm vào nước lạnh hay ấm là tùy thuộc vào nguyên liệu.Đun sôi kỹ rồi cho gia vị vừa ăn.Sau đó cho nguyên liệu thực vật vào.Đun cho nguyên liệu chín tới hoặc chín mềm.

    Đặc điểm kỹ thuật:

    – Thời gian chế biến phụ thuộc vào tính chất ,khối lượng thực phẩm.

    – Trong món canh,lượng nước thường nhiều hơn cái.Nước phải trong và ngọt tự nhiên của sản phẩm.

    – Nước canh có thể sử dụng nước lã hoặc nước luộc thịt.Nước luộc thịt có thể sử dụng nấu các trong các loại canh.Nhưng nước luộc các loại thủy sản chỉ để dùng nấu canh,chế biến từ nguyên liệu thủy sản.

    3. NINH 

    Là phương pháp bỏ thực phẩm có cỡ lớn vào nhiều nước, đun sôi lăn tăn trong thời gian lâu để thực phẩm tiết nhiều chất ngọt vào nước và chín dừ. Khác với món luộc, món ninh ăn luôn cả nước lẫn cái. Ninh không có nhiều món phong phú như các loại món ăn khác. Nhưng đặc biệt món “chân giò ninh măng ” lại là món ăn cổ truyền của dân tộc, thường có trong các bữa cỗ, nhất là Tết. Phương pháp ninh chỉ thích hợp đối với các nguyên liệu động vật dai, cứng, có lẫn cả xương, gân, bạc nhạc và một vài thứ thực vật ăn củ và củ, hạt có bột tươi hay khô. 

    Việc ứng dụng một cách thông thường nhất của phương pháp này là ninh xương lấy nước dùng ngọt để nấu các món ăn khác ( canh, phở, cháo…) . Trong cỗ bát thì nước dùng là thứ không thể thiếu được đối với các bát nấu. 

    Dựa vào tính chất, đặc điểm riêng, trong chuyên môn người ta chia làm hai loại: 

    1.Ninh làm bán thành phẩm ( ninh xương lấy nước ). 

    2.Ninh làm thành phẩm ( các món ninh ) 

    Nhưng dù là loại nào thì kết quả phải đạt được yêu cầu là: 

    + Nước phải trong và thơm ngon 

    + Thực phẩm trong món ăn phải chín nhừ không nát.

    Ðể đạt được yêu cầu trên, cách chế biến thông thường là bỏ thực phẩm cắt miếng to vào nhiều nước nguội, rồi mới đặt lên bếp đun. 

    Các thực phẩm phối hợp (măng, khoai, hạt sen…) bao giờ cũng bỏ vào ninh lẫn khi thịt đã chín mềm. 

    Nếu là ninh xương lấy nước dùng, thì sau khi hớt sạch bọt váng mới cho các gia vị thơm và ít gia vị mặn. 

    Khi ninh cần chú ý: 

    – Ðun nhỏ lửa, chỉ để nước sôi lăn tăn. 

    – Hớt bọt váng nhiều lần cho thật sạch.

    4. HẦM

     Là phương pháp bỏ thực phẩm (đã rán hay xào) vào nước, đun nhỏ lửa trong thời gian lâu để làm cho thực phẩm thơm và chín dừ dần. Như vậy, quá trình làm món hầm là phải phối hợp cả rán (hay xào) và ninh. Do cách làm chín, các món hầm đều có mùi thơm, vị ngọt đậm đà và màu sắc hấp dẫn hơn các món ninh và luộc. 

    Nguyên liệu dùng làm các món hầm không nhiều. Thông thường chỉ áp dụng với những bộ phận thịt có lẫn gân, bạc nhạc hoặc lẫn cả xương bì. Không dùng thuỷ sản. Về thực vật chỉ giới hạn với rau ăn củ và củ hay hạt có bột. Về gia vị: ngoài các gia vị mặn, hầu hết món hầm đều dùng đến hành tỏi và bột. Có món dùng thêm rượu và gia vị tạo màu. Các món hầm đều được cấu tạo hỗn hợp cả thịt và rau.

    Sau khi chế biến xong, món hầm phải đạt được yêu cầu: 

    -Cắt thái đều, nước hơi sánh mượt và ít (chỉ còn săm sắp cái). 

    -Dậy mùi thơm đặc trưng. Vị ngọt đậm đà, vừa ăn. 

    -Chín dừ không nát. 

    Món hầm thường ăn vào bữa chính. Trong các bữa tiệc ăn vào phần thứ.

    5. CHẦN, NHÚNG, DỘI

    Đun sôi nước,thả thực phẩm vào đảo đều cho gần chín rồi vớt ra chúng tôi dội nước sôi lên nguyên liệu 1 lần cho chín tới.

    Đặc điểm kỹ thuật: 

    – Sản phẩm có thể ăn ngay (VD: tim, gan, bầu dục, óc chần), nhưng cũng có thể chế biến tiếp như các loại nguyên liệu thực vật như rau cải.

    – Nguyên liệu thường được cắt,thái mỏng nhỏ(VD: thịt bò tái).

    – Nhiệt độ nước phải đảm bảo 100 độ C và lượng nước phải rất nhiều.

    – Thời gian làm chín rất nhanh,từ 1-3 phút.

    – Chỉ sử dụng những nguyên liệu dễ chín,nhanh chín ( VD: Nguyên liệu động vật: Tim, gan, bầu dục, thăn bò. Nguyên liệu thực vật thường sử dụng loại non, dễ chín).

    6. KHO

     Là phương pháp làm chín thực phẩm bằng cách dùng ít nước và gia vị (chủ yếu là gia vị mặn ), đun trong thời gian lâu để thực phẩm ngấm mặn và chín dừ. Cùng loại món ăn này còn có các món rim, rang mỡ cũng có mùi vị và màu sắc giống như kho.

    Kho là món ăn thường có trong bữa ăn hàng ngày. Do cách làm chín kỹ, thực phẩm được ngấm mặn nên món ăn kho có thể để nhiều ngày.

    Có hai dạng kho là: 

    – Kho khô, thành phẩm phải cạn hết nước, thường áp dụng để kho cá. 

    – Kho ướt, thành phẩm còn ít nước, thường áp dụng để kho thịt. 

    Nước của món kho có thể dùng để chấm rau luộc, dưa chua. 

    Ðặc biệt món “Cá kho khô “, ngày xưa còn được dùng để ăn với bánh chưng trong ngày Tết. Ngày nay ở phía Nam, món ” Thịt heo khô ” cũng được dùng trong dịp Tết để ăn với bánh Tết. 

    Do đặc điểm của phương pháp nấu, nên thực phẩm áp dụng thích hợp nhất để kho là các loại cá, một vài bộ phận thịt có lẫn mỡ, gân, bì của thịt bò, thịt lợn và gà, vịt. Ngoài ra, còn dùng một vài thứ rau củ – quả như : củ cải, su hào, măng tươi, dứa, chuối xanh, dừa v.v…. để kho lẫn với cá, thịt. 

    Các gia vị dùng để kho chủ yếu là gia vị mặn ( muối, nước mắm, xì dầu, tương ), và hầu hết món kho đề dùng nước hàng để tạo mầu. Các gia vị khác tuỳ thuộc vào nguyên liệu chính để kho. 

    Những món kho bằng nguyên liệu khác nhau, nhưng kết quả thành phẩm đều giống nhau. Vị mặn dịu. Thơm đặc trưng của gia vị mặn được cô sắc lại. Màu cánh dán non. Chín dừ, nếu là cá kho còn dừ cả xương, không nát. 

    Muốn làm được như vậy, thực phẩm để kho, cắt thái cỡ lớn và phải ướp kỹ với muối, nhất là cá. Riêng cá có thể nướng hay rán qua mỡ rồi mới kho càng ngon. 

    Có hai cách kho phổ biến: 

    Xếp thực phẩm đã ướp kỹ vào nồi, cho thêm gia vị thích hợp. Ðặt lên bếp đun cạn gia vị rồi mới chế nước sôi ngập thực phẩm, tiếp tục đun nhỏ lửa cho đến khi nước cạn và dừ thực phẩm. Ðun sôi nước, cho thêm gia vị thích hợp rồi bỏ thực phẩm đã ướp kỹ vào tiếp tục đun nhỏ lửa cho đến khi thực phẩm dừ và cạn nước.

    7. RIM

     Cơ bản là rim giống kho,vị cũng mặn. Nhưng so với kho thì nhạt hơn,lượng nước nhiều hơn món kho.Chủ yếu là ăn cái.Thực phẩm dùng cho món rim là những nguyên liệu mềm,dễ chín.Nguyên liệu cho món rim cắt miếng nhỏ.Thời gian chế biến ngắn hơn và thường chỉ sử dụng 1 loại nguyên liệu.

    8. OM

    Là phương pháp bỏ thực phẩm (chủ yếu là các loại có mùi tanh – hôi ) đã được xào (hay rán qua) vào nồi có vung kín với ít nước, đun trong thời gian tương đối lâu, nhằm làm cho thực phẩm và gia vị có mùi thơm, chín mềm và tiết ra chất keo đông (gelatine).

    Món om là món ăn dân tộc cổ truyền. Tuy nguyên liệu dùng để nấu món này không nhiều, nhưng cho đến nay món om vẫn được ưa thích, một số món được coi là đặc 

    sản thuần tuý dân tộc như: om dấm cái, om riềng mẻ, dựa mận v.v… Các gia vị đặc trưng của món này là riềng, mẻ (hay dấm cái), mắm tôm và nước nghệ vắt.

    Quá trình làm chín chủ yếu bằng nhiệt của hơi nước được tích tụ trong nồi khi om; ngày nay người ta vận dụng để tạo ra nhiều món om khác nhau.

    Khi chế biến các nguyên liệu chính và nguyên liệu phối hợp đều phải xào hay rán qua mỡ rồi mới cho nước để om.

    Các gia vị nêm vào món ăn thì ướp là chính, gia giảm lúc nấu là phụ. Vì món ăn đòi hỏi phải ngấm nhiều gia vị mới nổi vị đặc trưng.

    Sau khi chế biến xong phải đạt yêu cầu chung là:

    -Nổi màu sắc của gia vị tạo màu.

    -Vị đậm đà vừa ăn. Dậy mùi của gia vị đặc trưng.

    -Chín mềm hay dừ, không nát.

    -Nước om còn ít và hơi sánh keo.

    9. HẤP

    Là phương pháp bỏ thực phẩm đã được ướp kỹ hay xào rán qua mỡ vào một dụng cụ riêng là lồng hấp hay nồi hơi, rồi dùng sức nóng của hơi nước với thời gian tương đối lâu để làm chín mềm.

    Hấp thuộc loại món ăn chế biến cầu kỳ, thực phẩm chọn lọc kỹ, nên thường dùng vào các bữa tiệc. Chỉ có một số ít món được dùng trong bữa ăn hàng ngày với tính chất là vận dụng đơn giản như hấp trên cho xôi hay nồi cơm đã cạn nước.

    Chế biến bằng cách này, món ăn giữ được độ ngọt đạm cao, chín mềm, không bị khô. có món còn giữ được cả hình dáng như trước lúc hấp.

    Nguyên liệu được dùng để hấp chủ yếu là thịt gia cầm và các thủy sản. Còn thịt gia súc chỉ là nguyên liệu phối hợp, rất ít món dùng làm nguyên liệu chính.

    Các thực vật chỉ giới hạn một vài thứ rau ăn củ và các loại nấm. Một số món hấp có dùng bột chỉ để làm sánh nước hấp khi ăn.

    Phương pháp này không những chỉ để làm chín mà còn vận dụng để hâm hay giữ nóng thức ăn đã làm chín.

    Yêu cầu thành phẩm của hấp là:

    -Giữ được màu sắc của nguyên liệu.

    -Dậy mùi thực phẩm. Vị ngọt đậm đà của chất đạm.

    -Chín mềm không khô.

    10. TẦN

    Nguyên liệu được để trong dụng cụ (chuyên dụng) kín.Rồi đặt trong nồi nước đun sôi.Trong quá trình chế biến,nguyên liệu nhận nhiệt gián tiếp từ hơi nước sôi và nước sôi được chuyển qua dụng cụ chứa nguyên liệu,nhờ đó nước kín và nguyên liệu đem tần được nóng lên và chín dần.

    Đặc điểm kỹ thuật:

    – Nguyên liệu sử dụng là nguyên liệu động vật có giá trị dinh dưỡng cao (VD: ba ba, hải sâm, gà, vịt, chim bồ câu tần với hạt sen,bóng bì,thuốc bắc), không sử dụng nguyên liệu thực vật.

    – Nguyên liệu trước khi đem tần thường được ướp gia vị rồi bỏ vào dụng cụ chuyên dụng.

    – Do truyền nhiệt gián tiếp nên thời gian tần rất lâu. Có thể từ 2h-5h,nên phụ thuộc vào kích thước và trọng lượng của nguyên liệu.

    – Sản phẩm phải giữ được hình dạng ban đầu, hương vị đặc trưng, nước ngọt và thịt mềm.

    11. TRÁNG

    Tráng rất giống đồ và hấp ở chỗ nguyên liệu nhận nhiệt trực tiếp từ hơi nước. Nhưng khác ở 1 số đặc điểm sau đây:

    – Nguyên liệu thường được dùng là bột say nhỏ, mịn, ở trạng thái lỏng.

    – Dụng cụ chứa nguyên liệu là khuôn vải,đặt trên miệng nồi đáy. Thời gian chế biến từ 20-30 giây.

    – Sản phẩm có hình dạng mỏng,to bản,trạng thái dẻo dai hơn, giòn (VD: bánh phở, bánh cuốn).

    – Sản phẩm tráng có thể đựoac ăn trực tiếp hoặc có thể chế biến tiếp.

    12. ĐỒ

    Đồ tương tự như phương pháp hấp .Nguyên liệu thường là thực phẩm,thực vật giàu tinh bột (VD: gạo nếp, khoai, sắn và các sản phẩm chế biến từ chúng). Riêng gạo nếp trước khi đun hoặc đồ phải ngâm trước 5-6h.

    13. XÀO

    Là phương pháp làm chín thực phẩm bằng ít chất béo, ở điểm sôi (dưới tác dụng của nhiệt), có phối hợp với ít nước, thời gian làm chín nhanh với nhiệt độ cao, nhằm đạt yêu cầu chín tới.

    Món xào thuộc món ăn phổ thông được áp dụng rộng rãi trong kết cấu bữa ăn từ thông thường đến các bữa cỗ – tiệc. Đặc điểm nổi bật của món ăn này là áp dụng nguyên liệu và gia vị rất linh hoạt, thời gian làm chín nhanh, tạo ra nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng. Có thể chỉ cần một ít mỡ nước với một thứ rau cũng làm được món xào (rau xào) hay nhiều thứ thực phẩm chọn lọc để làm món xào có 

    chất lượng cao (xào thập cẩm). Có nhiều món xào mang tên khác nhau, nhưng kết quả thành phẩm đều giống nhau:

    Là món ăn khan, không có nước.

    Vị không mặn, không nhạt.

    Chỉ chín tới hay chín mềm, không dừ.

    Tuy hầu hết các nguyên liệu là thịt gia súc, gia cầm, các thủy sản và các loại rau tươi hay khô hoặc muối chua đều có thể áp dụng để xào, nhưng cần lựa thứ non, mềm dễ chín, dễ ngấm nước béo. Không dùng nguyên liệu già có xơ cứng. Chất béo để xào phải tươi tốt. Có như thế mới đáp ứng được yêu cầu của thành phẩm.

    Cách xào nói chung là: Thực phẩm thái mỏng đều hay thái chỉ. ướp kỹ thịt hay cá với các gia vị thích hợp (có thể chao qua mỡ sôi rồi mới xào). Rau không phải ướp, nhưng cũng có thể đem chần rồi mới xào.

    Trước lúc ăn, rưới mỡ láng chảo đun nóng già, phi thơm hành tỏi và các gia vị khác (nếu có), bỏ thịt (hay cá) vào xào chín xúc ra. Xào tiếp các loại rau cho chín, nêm đủ các gia vị rồi mới trút thịt (hay cá) đã xào vào xóc đều lên là được. Nhắc ra, xúc vào đĩa, rắc hạt tiêu, rau mùi.

    Làm như vậy mới đúng với nguyên tắc:

    -Dùng ít mỡ và phải đun nóng già mới xào.

    -Thao tác xào phải nhanh với nhiệt độ cao.

    -Món xào hỗn hợp (thịt + rau) phải xào riêng từng thứ rồi mới trộn để tạo ra thành phẩm.

    14. NƯỚNG

    Là phương pháp dùng sức nóng trực tiếp của những tia nhiệt từ lò than/điện cháy đỏ phát ra tác dụng trực tiếp vào thực phẩm để biến đổi thực phẩm sống thành thực phẩm chín. Món nướng là món ăn ngon và hấp dẫn có từ lâu đời nhất. Đến nay phương pháp nướng vẫn được tồn tại phát triển rất phong phú cả về cấu tạo món ăn cũng như hình thức chế biến.

    Hầu hết món nướng thường chỉ áp dụng vào thực đơn tịệc hay các bữa ăn đặc sản. Chỉ có một vài món phổ thông được áp dụng để ăn vào bữa phụ. Mỗi món nướng có nước chấm riêng.

    Nguyên liệu để nướng chủ yếu là thịt gia súc, gia cầm và một số thuỷ sản.

    Cần chọn loại mềm, dễ chín. Không có nguyên liệu là thực phẩm phối hợp. Chỉ một vài món dùng rau gia vị gói ngoài vỏ thưc phẩm trước khi nướng và có món khi ăn kèm rau ghém. Các gia vị chung chỉ là mắm, muối, hạt tiêu. Còn tuỳ thuộc nguyên liệu của từng món cụ thể mà sử dụng gia vị khác cho phù hợp. Làm món nướng cần có dụng cụ chuyên dùng và chất đốt riêng.

    Có nhiều món nướng mang tên khác nhau, nhưng kết quả thành phẩm đều có những yêu cầu chung:

    +Màu vàng tạo thành mê-la-nô- ít.

    +Dậy mùi thơm của hiện tượng hun khói (fumaison).

    + Vị đậm đà của thực phẩm và gia vị đặc trưng.

    + Chín mềm, không dai, không khô khét.

    + Nước chấm dịu, không mặn gắt.

    Cũng như phương pháp quay, khi chế biến món nướng cần có hai yếu tố: Ướp gia vị và điều chỉnh độ nhiệt.Khác với quay xiên là đặt thực phẩm quay cạnh lò than. Vì đặt thực phẩm hơ trên lò than với khoảng cách thích hợp, nên khi nướng dư vị của thực phẩm tiết ra rỏ xuống lò than, cháy bốc khói tác dụng vào thực phẩm do đó món nướng có mùi hun khói, nếu cứ để như vậy món ăn sẽ bị ám khói đen và có mùi khét. Để hạn chế hiện tượng này, khi nướng người ta phải ta quạt cho bớt khói, đồng thời cũng là tác động để duy trì độ nhiệt trong lò than. Để thực phẩm đem nướng không bị khô, khi nướng thỉnh thoảng phải quét mỡ nước bên ngoài.

    Món nướng thường ăn vào phần khai vị hay là món chuyển tiếp giữa các phần trong món thực đơn.

    15. Quay nướng bằng đốt nóng trực tiếp

    Quay nướng bằng đốt nóng trực tiếp là phương pháp chế biến nhiệt mà nguyên liệu được đặt trực tiếp trên nguồn nhiệt (có thể tiếp xúc hay không tiếp xúc trực tiếp với nguồn nhiệt). Đốt nóng nguồn nhiệt, đặt nguyên liệu đã được sơ chế cách nguồn nhiệt một khoảng cách nhất định hay đặt ngay trên bề mặt nguồn nhiệt để làm chín. Trong khi chế biến phải điều chỉnh nhiệt độ và thay đổi bề mặt của nguyên liệu liên tục để nguyên liệu được tiếp xúc đều với nguồn nhiệt đến khi đạt độ chín cần thiết.

    Nguyên liệu để quay chủ yếu là nguyên liệu có nguồn gốc động vật. Sơ chế thịt gia súc, gia cầm để nguyên con hoặc miếng to, bên trong bôi, nhồi gia vị và lá thơm, bên ngoài bôi các gia vị tạo màu. Nguyên liệu để nướng là thịt động vật pha miếng nhỏ được tẩm ướp gia vị hay có thể kết hợp nhiều loại nguyên liệu bao gói vào nhau; nguyên liệu thực vật là những nguyên liệu giàu tinh bột như các loại củ khoai, sắn…

    Nhiệt độ môi trường được điều chỉnh bằng tăng giảm nhiệt độ nguồn nhiệt hoặc bằng điều chỉnh khoảng cách từ nguyên liệu đến nguồn nhiệt. Phương pháp quay dùng kỹ thuật xoay để điều chỉnh bề mặt nguyên liệu tới nguồn nhiệt, phương pháp nướng bằng lật trở dụng cụ giữ nguyên liệu. Thông thường nhiệt độ chế biến ban đầu thường cao để tạo lớp vỏ cho nguyên liệu, sau đó giảm nhiệt cho nguyên liệu chín dần vào trong.

    Thời gian làm chín phụ thuộc kích thước của nguyên liệu, loại nguyên liệu trạng thái của nguyên liệu và nhiệt độ môi trường truyền nhiệt. Thông thường làm chín bằng cách này lâu hơn quay bằng chất béo.

    Sản phẩm có lớp vỏ vàng hoặc đỏ cánh gián, mùi thơm, vỏ giòn, bên trong chín tới, vị ngọt đậm. Trong quá trình quay, nướng có thể phết thêm mỡ lên bề mặt để nguyên liệu đỡ bị khô.

    Quay nướng trong lò nướng còn gọi là bỏ lò, nguồn nhiệt để làm chín là dụng cụ kín được đốt nóng bằng điện, ga để tạo ra không khí nóng, không khí nóng làm chín nguyên liệu. Nguyên liệu để nướng đặt trong lò, để quay được xiên bằng trục bằng sắt có gá giữ nguyên liệu và trục này tự xoay đều bằng môtơ.

    16. RANG

    Rang là phương pháp chế biến nhiệt gián tiếp qua dụng cụ chứa đựng. Dụng cụ chứa đựng nguyên liệu được đốt nóng (xoong, chảo, lập là). Cho nguyên liệu vào và khuấy đảo liên tục tới khi nguyên liệu chín tới độ cần thiết. Khi rang có thể sử dụng một số chất dẫn nhiệt trung gian như cát, muối sạch để ổn định nhiệt độ khi rang. Khi đó nguyên liệu được trộn lẫn với chất dẫn nhiệt trung gian, khi rang xong phải sàng lọc để tách nguyên liệu ra.

    Nguyên liệu dùng để rang thường là hạt ngũ cốc, hạt nông sản. Nguyên liệu có kích thước nhỏ, trạng thái tươi hoặc khô. Để đảm bảo nguyên liệu chín đều nên chọn nguyên liệu có cùng trạng thái, kích thước để rang cùng một lần.

    Nhiệt độ khi rang cần đều, ổn định, không cần nhiệt độ cao.

    Thời gian làm chín nguyên liệu phụ thuộc vào kích thước, trạng thái, độ tươi, khô của nguyên liệu.

    Sản phẩm rang có màu vàng đến nâu sẫm, có mùi thơm, thủy phần thấp, có độ giòn.

    17. THUI 

    Thui là phương pháp chế biến nóng khô bằng cách đốt nóng trực tiếp nguồn nhiệt xung quanh nguyên liệu để tạo màu và đạt đến độ chín cần thiết cho nguyên liệu. Nguyên liệu đã sơ chế đặt trực tiếp nguyên liệu lên trên nhiên liệu đang cháy hay đốt nhiên liệu xung quanh nguyên liệu. Vừa đốt vừa xoay đều nguyên liệu để tạo màu và độ chín cần thiết.

    Nguyên liệu thui chủ yếu là gia súc như: chó, dê, chân giò, bê… Thịt chó thui rồi mới mổ; dê thì mổ, nhồi lá thơm (sả, ổi, hương nhu, khúc tần…) vào bụng, khâu lại rồi mới thui. Khi sơ chế phải cẩn thận không làm rách da vì khi thui chỗ sước, rách da dễ bị nứt làm giảm chất lượng sản phẩm.

    Nhiên liệu thường dùng là rơm, cỏ khô, lá khô, than… phải đảm bảo không độc, không có mùi vị lạ lẫn vào nguyên liệu. Đối với các con vật to thường dùng rơm, rạ để thui, sản phẩm có màu và mùi thơm của chất đốt. Trong chế biến còn sử dụng giấy bản quấn vào nguyên liệu để đốt như thui chân giò.

    Thời gian thui phụ thuộc vào yêu cầu thành phẩm, vào kích thước con vật, vào nguồn nhiệt. Thui để tạo màu, mùi thơm nhanh hơn thui để làm chín sản phẩm.

    Sản phẩm có màu vàng đến màu nâu, có mùi thơm hấp dẫn. Sản phẩm thui thường để chế biến tiếp như: thịt chó, dê, chân giò… dùng cho các món luộc, nấu, hấp.

    18. VÙI 

    Vùi là phương pháp làm chín nguyên liệu bằng cách đặt nguyên liệu bên trong nguồn nhiệt, nguyên liệu nhận được nhiệt và chín đến độ cần thiết.

    Nguyên liệu sử dụng thường là nguyên liệu tươi; nguyên liệu thực vật giàu tinh bột (ngô, khoai, sắn); nguyên liệu động vật được bao gói bằng đất, bùn, trong dụng cụ chứa đựng khác như (nồi đất, nồi gang, quả dừa, tre, nứa tươi ). Nguyên liệu trước khi vùi có thể còn tươi hoặc đã được làm chín trước như: om cá, om ngô…

    Nhiệt độ làm chín là nhiệt độ trực tiếp của than, nhiên liệu thường là than củi, rơm, rạ, trấu…

    Thời gian vùi tương đối nhanh, phụ thuộc vào loại nguyên liệu, kích thước và trạng thái của nguyên liệu, nhiệt độ môi trường.

    Sản phẩm có lớp vỏ màu đen, có mùi thơm hấp dẫn, thủy phần thấp. Một số sản phẩm vùi như: ngô, khoai, sắn, cá, gà, chim, cơm lam…

    19. RÁN

    là phương pháp làm chín thực phẩm bằng chất béo (có thể 1 ít hoặc ngập trong chảo mỡ, dầu). Nguyên liệu đem rán có thể để nguyên hoặc tẩm bột trước. Phương pháp rán sẽ không dùng phối hợp với nước như xào. 

    a/ Rán ngập mỡ

    Rán ngập mỡ là phương pháp chế biến món ăn bằng dầu, mỡ. Nguyên liệu ngập hoàn toàn trong dầu, mỡ. Đun nóng dầu, mỡ, bỏ nguyên liệu ngập trong dầu, mỡ rán cho tới khi nguyên liệu tạo được lớp vỏ và độ chín đạt yêu cầu, vớt ra. Mỗi lần rán xong hay trong dầu, mỡ có nhiều tạp chất phải lọc kỹ tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng món ăn. Các nguyên liệu không có mùi vị đặc biệt rán trước.

    Nguyên liệu để rán tương đối đa dạng. Nguyên liệu động vật như gia súc, gia cầm, cá. Nguyên liệu thực vật như các loại củ giàu tinh bột, quả… Nguyên liệu bao gói như nem, bọc bột. Sơ chế nguyên liệu thái miếng mỏng vừa cho dễ chín, cắt thái kích thước đồng đều. Những nguyên liệu có bao gói như nem phải có biện pháp chống bung nhân ra môi trường. Những nguyên liệu bao bột cần phải dính chắc vào nguyên liệu.

    Lượng chất béo dùng để rán nhiều gấp 3-4 lần khối lượng nguyên liệu một lần rán. Tỷ lệ dầu mỡ nhiều đảm bảo nhiệt độ ổn định khi cho nguyên liệu vào rán, khi dầu, mỡ nóng già thì mới nên cho nguyên liệu vào.

    Nhiệt độ khi rán phụ thuộc vào loại chất béo (dầu nhiệt độ tối đa là 160oC độ còn mỡ khoảng 190oC) và cấp nhiệt cho phù hợp với từng loại sản phẩm. Không nên cấp nhiệt nhiều quá dễ làm cháy nguyên liệu và oxy hóa chất béo.

    Thời gian rán phụ thuộc vào kích thước của nguyên liệu và nhiệt độ của chất béo. Nếu nguyên liệu cùng loại, cùng kích thước thì rán ngập mỡ thời gian chín nhanh hơn rán không ngập mỡ.

    Sản phẩm của rán ngập mỡ có lớp vỏ vàng đều đẹp, mùi thơm đặc trưng.

    b/ Rán không ngập mỡ

    Rán không ngập mỡ là phương pháp chế biến món ăn bằng chất béo mà khi rán nguyên liệu chỉ ngập một phần trong chất béo. Cho dầu, mỡ vào dụng cụ, khoảng 10-15% lượng nguyên liệu. Đun dầu, mỡ nóng già, đặt lần lượt từng miếng nguyên liệu vào khắp mặt của dụng cụ lật trở các mặt nguyên liệu cho tiếp xúc đều với đáy dụng cụ tới khi nguyên liệu chín đạt yêu cầu chế biến. Dụng cụ sử dụng để rán phải sạch sẽ, phẳng mặt để dễ dàng tiếp xúc với bề mặt nguyên liệu. Đối với dụng cụ rán bằng lập là chống dính, không được sử dụng vật cứng để lật trở nguyên liệu hay đánh rửa, luôn bảo vệ tốt bề mặt chảo. Nguyên liệu đem rán cần có các mặt phẳng để dễ rán, cần cắt thái đồng đều để có thể rán từng mẻ nguyên liệu. Trong quá trình rán luôn luôn lọc bỏ các vẩn, tạp chất trong dầu, mỡ tránh làm cháy, khét làm giảm chất lượng của nguyên liệu.

    Nguyên liệu rán bằng phương pháp này thường cắt lát nhỏ hoặc dàn mỏng với mục đích nhanh chín và chín đều.

    Nhiệt độ và thời gian khi rán phụ thuộc vào loại chất béo, kích thước nguyên liệu và giai đoạn rán.

    Sản phẩm rán không ngập mỡ có lớp vỏ màu vàng rơm đến vàng nâu nhưng màu không đều khắp do bề mặt nguyên liệu không tiếp xúc đều được với chất béo hay bề mặt dụng cụ. Độ giòn cũng không bằng rán ngập mỡ.

    About

    HongNgoc Foody

    RELATED POSTS

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 6+ Loại Đường Ăn Tốt Cho Sức Khỏe Được Ưa Chuộng (Nên Mua)
  • Tự Làm Kẹo Sữa Dẻo Ngọt Ngào Dành Tặng Người Thân
  • Cách Làm Kẹo Sữa Dẻo
  • Cách Làm Kẹo Kéo Đơn Giản, Hoàn Hảo Như Hương Vị Tuổi Thơ.
  • Kẹo Hồ Lô Là Gì ? Cách Làm Kẹo Hồ Lô Truyền Thống Trung Quốc
  • Các Phương Pháp Nấu Chảy (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bậc Thầy Của Kỹ Nghệ Nung Chảy
  • Nhiệt Độ Xà Phòng Mp Trong Quá Trình Làm Xà Phòng Handmade
  • Học Làm Món Ăn Canh Bún Chay
  • Những Giá Trị Dinh Dưỡng Tuyệt Vời Của Bột Yến Mạch Cho Người Ăn Chay
  • Trẻ Bị Tiêu Chảy Nên Ăn Cháo Gì? Top 8+ Món Cháo Cho Bé
  • I. GIỚI THIỆU:

    Trải qua các thời kỳ lịch sử, quá trình nấu chảy đã thay đổi cách thức thực hiện: Trước đây, khi nấu chảy hợp kim để đúc, người ta thường dùng gạch chịu lửa (gồm bột chịu lửa, đất sét) thay thế bột nang mực làm vật liệu cho khuôn đúc, còn bây giờ người ta dùng ống thạch cao hay khuôn kim loại để định hình phôi đúc. Bất cứ cách thức sử dụng nào cũng có thể được, miễn sao nó thích hợp để hạn chế sự hấp thu khí vào hợp kim nóng chảy. Khí hấp thu vào hợp kim là từ không khí xung quanh nơi làm việc, từ sự ẩm ướt trên tường lò, từ kẹp gắp và từ quá trình khuấy trộn hợp kim nóng chảy trong lò nấu. Khi hợp kim nóng chảy đông đặc lại, các chất khí hấp thu trong hợp kim có xu hướng thoát ra ngoài qua các chổ rỗ trên bề mặt hợp kim hay hình thành các bong bóng khí kẹt lại trong hợp kim. Ngoài ra, ô-xy hòa tan có thể kết hợp với một trong những kim loại của hợp kim để tạo thành ô-xít.

    Bên cạnh việc gây rỗ bề mặt, sự hiện diện của tạp chất còn ảnh hưởng xấu đến độ bền của hợp kim.

    II. NGUỒN NHIỆT ĐỂ NẤU CHẢY:

    Đối với nguồn nhiệt, đã có sự phát triển trải qua các thời kỳ lịch sử, đầu tiên là đốt nóng bằng than (hệ thống lò rèn). Sau này, được thay thế đốt nóng bằng khí prô-pan hay khí mê-tan hay bằng điện trở. Còn bây giờ, nguồn nhiệt được cung cấp bằng lò điện từ sử dụng trường cảm ứng có điện áp cao và điện áp vừa. Ưu điểm của chúng là làm giảm hấp thu khí nhờ quá trình gia nhiệt và nấu chảy rất nhanh.

     

    III. PHÂN LOẠI NẤU CHẢY:

    Tổng kết, chúng ta có thể phân loại các phương pháp nấu chảy như sau:

    – Nấu chảy trực tiếp bằng mỏ hàn xì (Đèn khò)

    – Nấu chảy gián tiếp bằng lò đốt khí

    – Nấu chảy bằng điện trở

    – Nấu chảy bằng dòng điện cảm ứng (Nấu chảy bằng điện tử)

     

    IV. NẤU CHẢY Ở TRẠNG THÁI TĨNH:

    Tất cả những kỹ thuật nấu chảy được áp dụng trong các lò đúc gọi là “Nấu chảy tĩnh”, tức là cho kim loại chảy lỏng ra từ từ bằng việc nấu nó bên trong cốc nấu bằng than gra-phít cho đến khi đúc được. Thường đúc thủ công, người ta dùng kẹp gắp cốc nấu ra khỏi lò, rồi rót hợp kim nóng chảy vào trong ống thạch cao hay khuôn kim loại để tạo ra phôi có dạng thanh hay dạng tấm.

     

    V. ĐÚC LIÊN TỤC:

    Gần đây, công nghệ chế tác đồ trang sức bằng kỹ thuật nấu chảy truyền thống đã được bổ sung thêm qui trình đúc liên tục, kết hợp giữa việc nấu chảy và định hình phôi đúc dạng thanh hay phôi đúc dạng tấm trong một máy đúc duy nhất. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng kỹ thuật nấu chảy kim loại sau đây:

    1. NẤU CHẢY BẰNG MỎ HÀN XÌ (ĐÈN KHÒ):

    a. ĐỊNH NGHĨA:

    b. DỄ Ô-XY HÓA:

    Tuy nhiên, nên lưu ý một lần nữa, các hợp kim nóng chảy ở nhiệt độ càng cao thì càng dễ hấp thụ khí (ô-xy và hy-drô) và hòa tan trong hợp kim. Sự việc này có thể xảy ra là do không khí xung quanh khu vực nấu chảy hay do sự ẩm ướt trên thành nồi nấu.

    Khi hợp kim đông lại, khí hòa tan trong hợp kim sẽ thoát ra ngoài và để lại các vết nứt trên bề mặt hợp kim hay các lổ rỗng bên trong hợp kim do hình thành các bong bóng khí ảnh hưởng xấu đến độ bền của vật liệu. Ô-xy hòa tan trong hợp kim nóng chảy thường có thể kết hợp với một trong những kim loại của hợp kim tạo thành ô-xit (Ví dụ: ô-xit đồng -Cu2O)

     

    c. NUNG NÓNG TRONG MẺ NẤU:

    Hợp kim được bỏ vào mẻ nấu bằng vật liệu chịu lửa, trước đó đã đun nóng nó đến khoảng 700 độ C bằng ngọn lửa để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nấu chảy, vì như thế sẽ làm tăng tốc quá trình nấu chảy và giảm nguy cơ của quá trình oxy hóa.

    d. CHẤT TẠO XỈ:

    Để tránh nguy cơ của quá trình ô-xy hóa, trong quá trình nấu chảy nên cho thêm vào một lượng nhỏ chất chống ô-xy hóa ở dạng bột như hàn the. Chúng sẽ tạo nên một lớp xỉ nhẹ hơn hợp kim và nổi lên trên bề mặt hợp kim nóng chảy, tạo lớp ngăn cách với không khí bên ngoài.

    Chắc chắn, chất tạo xỉ phải có điểm nóng chảy thấp hơn so với hợp kim và không được cháy cũng như bốc hơi quá nhanh

     

    e. NHIỆT ĐỘ ĐÚC:

    Ngay khi đạt được nhiệt độ đúc tối ưu (khi đó có hiện tượng “chói mắt” nếu nhìn trên bề mặt mẻ nấu) nên thực hiện đúc ngay lập tức. Khi sự gia nhiệt kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ của quá trình ô-xy hóa và tăng khả năng bay hơi của các kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp, thậm chí có thể là nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến độ mịn của hợp kim.

     

    f. PHƯƠNG PHÁP CÓ TÍNH KINH TẾ:

    Phương pháp này thường được áp dụng trong các xưởng kim hoàn nhỏ, vì nó không đòi hỏi thiết bị đắt tiền. Tuy nhiên, nó đòi hỏi người thợ hàn xì phải có tay nghề lâu năm và phải biết thời điểm thích hợp để đúc.

    Cuối cùng, nên lưu ý, khi sử dụng mỏ hàn xì, khí dễ cháy phải được mở trước tiên và được tắt sau cùng.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Cách Nấu Các Món Chay Từ Cà Tím Ngon, Bổ Dưỡng Cho Cơ Thể
  • Cà Tím Xào Chay – Thực Đơn Thanh Đạm Giúp Cải Thiện Sức Khoẻ
  • Top 10 Cách Làm Son Handmade Đẹp Nhanh Nhất Tại Nhà
  • Bật Mí 6 Cách Làm Son Nước Tại Nhà Cực Đơn Giản Ai Thử Cũng Thành Công
  • 6 Cách Tái Chế Son Môi Hết Hạn Cực Hay Tiết Kiệm Tiền Đáng Kể
  • Các Phương Pháp Nấu Chảy Kim Loại (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Khó Cưỡng Món Chuột Đồng Nấu Chua Cơm Mẻ Ở Miền Tây
  • Cách Nấu Canh Cua Với Dọc Mùng Ngon Hết Sảy
  • Món Ngon Từ Cá Rô Đồng
  • Năm Canh Tý Nói Chuyện Thịt Chuột
  • Về Hải Phòng Nhất Định Phải Ăn Lẩu Cua Đồng
  • NẤU CHẢY VỚI LÒ ĐỐT BẰNG KHÍ

    Lò đốt bằng khí gồm buồng lò có dạng hình trụ, đường kính khoảng 300 mm, bên trong được cấu tạo bằng vật liệu chịu lửa, còn bên ngoài được bảo vệ bằng lớp vỏ thép, có một đầu đốt để đốt hổn hợp khí và gió trộn lẫn vào nhau theo tỷ lệ (20% khí – 80% gió), được cung cấp thông qua một cái van điều chỉnh được lưu lượng hổn hợp khí, để canh chỉnh ngọn lửa sao cho tiếp xúc với buồng lò theo phương tiếp tuyến. Do đó, ngọn lửa sẽ tạo thành hình xoắn ốc bao quanh cốc nấu khi đặt vào đáy lò hình trụ, như thế việc nấu chảy đồng đều hơn. Một quạt gió có chức năng hút gió từ môi trường và thổi nó vào lò.

    Phía trên buồng lò hình trụ, ngay chính giữa có một lổ thông, mục đích cho không khí nóng trong lò thoát ra ngoài và là nơi dùng để quan sát quá trình nấu chảy trong lò. Dung tích nấu chảy của lò loại này có thể đạt 50 – 80 kg.

    Khi hợp kim được nấu chảy bằng sự nung nóng cốc nấu than chì qua ngọn lửa, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ngọn lửa, gọi là quá trình nấu chảy gián tiếp.

    ƯU ĐIỂM

    So với các phương pháp nấu chảy mô tả trước đây, phương pháp nấu chảy với lò đốt bằng khí có ưu điểm là: Bản thân của quá trình đốt cháy cốc nấu diễn tiến từ từ do buồng lò cấu tạo kín nên hạn chế tiếp xúc với oxy trong không khí, các hợp kim luôn luôn được đặt trong môi trường không có không khí, do đó làm giảm nguy cơ của quá trình oxy hóa.

    NẤU CHẢY BẰNG ĐIỆN TRỞ

    1. ĐỊNH NGHĨA:

    Nấu chảy bằng điện trở là dùng lò được đốt nóng bằng điện thay vì dùng ngọn lửa để đốt nóng theo đúng nghĩa.

    Do là điện trở nên khi có dòng điện chạy qua sẽ bị cản trở, tạo ra nhiệt cần thiết làm nấu chảy các hợp kim. Trong vật lý, hiện tượng này gọi là hiệu ứng Jun (Joule).

    2. HIỆU ỨNG JOULE:

    Nhiệt lượng (Q) sinh ra do điện trở (R) trong thời gian (t) luôn luôn tỷ lệ thuận với điện thế (V) ở hai đầu dây điện trở. Thời gian (t) và điện thế (V) tương quan theo tỷ lệ:

    Q = k V I t (Trong đó, k là hệ số tỷ lệ)

    Chưa hết, Theo định luật Ôm (Ohm)

    I = V / R

    Thay I = V / R vào công thức Q , ta sẽ có:

    Q = k V2 t / R

    ( Trong đó, R là điện trở của vật liệu khi có dòng điện chảy qua nó)

    3. GIỚI HẠN:

    Điện trở thường được làm bằng dây crom – niken (Cr – Ni) hay tốt hơn là dây bạch kim (Pt), bởi vì chúng có thể đạt được nhiệt độ khoảng 1.400 độ C.

    Rõ ràng, phương pháp nấu chảy này chỉ áp dụng được với các hợp kim có nhiệt độ nóng chảy dưới nhiệt độ này.

    4. ƯU ĐIỂM:

    Lò nấu bằng điện có một vài ưu điểm sau:

    – Đốt nóng đồng nhất

    – Kiểm soát không cho nhiệt độ thay đổi

    – Ít tạp chất hơn trong khi nấu chảy

    – Thời gian nấu chảy ngắn hơn

    – Nơi làm việc ít bị ô nhiễm

    Đốt nóng bằng điện hoàn toàn khác với đốt cháy nhiên liệu, tỏa ra khói và khói này liên tục thải ra môi trường xung quanh. Trên thực tế, quá trình đốt cháy các loại nhiên liệu đòi hỏi lượng không khí lấy từ môi trường như sau:

    – 1 kg than đá cần khoảng 9.000 lít không khí từ môi trường

    – 1 lít khí đốt (CH4) cần khoảng 5.000 lít không khí

    – 1 lít xăng hay dầu cần 12.000 lít không khí

    5. KIỂM SOÁT NHIỆT ĐỘ:

    Để xác định đúng thời điểm đúc, phụ thuộc vào quyết định của người thợ đứng lò. Với kinh nghiệm khi quan sát bằng mắt hay bằng các công cụ đặc biệt như cặp nhiệt điện để đo nhiệt độ nóng chảy của hợp kim, họ có thể nhận biết trạng thái nào của hợp kim phù hợp cho đúc.

    Lò điện là thiết bị nấu chảy tốt nhất cho việc kiểm soát và điều chỉnh nhiệt độ theo ý muốn. Trên thực tế, lượng nhiệt sinh ra có thể đạt được nhiều mức nhiệt độ khác nhau và chúng được điều chỉnh đến cấp độ nhỏ nhất bằng cách xoay núm vặn của thiết bị cảm biến điện để thay đổi cường độ dòng điện, kiểm soát dòng chảy của các điện tử trong điện trở.

    Vì vậy, các cặp nhiệt điện thường được đặt gần các điện trở. Ở vị trí này, cặp nhiệt điện chỉ đo được nhiệt độ của cốc nấu bằng than chì được đốt nóng bằng điện trở để nấu chảy hợp kim chứa trong cốc nấu, rõ ràng là nhiệt độ xung quanh điện trở là không giống như bên trong hợp kim nóng chảy.

    Để giải quyết việc đo lường nhiệt độ không chính xác, nên xem xét và tính toán nhiệt độ nấu chảy dựa trên yếu tố thời gian làm việc của các điện trở bằng cách cộng thêm nhiệt độ nấu chảy của các hợp kim từ 150 – 200 độ C so với nhiệt độ nóng chảy thực tế.

    Trong ngành kim hoàn, lò điện được sử dụng để nấu chảy một lượng nhỏ vàng hay bạc (khoảng 2 kg). Chúng có điện năng từ 700 – 1.000 W và có thể đạt đến nhiệt độ khoảng 1.100 độ C. Đặc tính nấu chảy của các loại lò loại này kéo dài khoảng chừng 35 phút cho lần nấu đầu tiên. Những lần nấu sau, thời gian nấu chảy từng lần sẽ giảm xuống do lò đã nóng sẳn.

    6. LÒ CÓ ĐIỆN TRỞ LÀ HỢP CHẤT SI-LIC:

    Như đã biết, điện trở bên trong của các lò điện trở thông thường mau hao mòn. Cho nên, người ta dùng vật liệu mới để làm điện trở là các-bít si-líc (SiC) có độ bền cao, thường được sử dụng để nấu chảy hợp kim có nhiệt độ nóng chảy trên 2000 độ C. Lò có điện trở là hợp chất si-lic thì không có tiếng ồn, sạch sẽ, bền hơn và chịu được nhiệt độ cao. Với ưu điểm về tuổi thọ của điện trở này, lò loại này có thể chịu được điện năng cao bằng cách sử dụng 10 điện trở, cho phép duy trì được điện năng ổn định trong suốt quá trình hoạt động của lò.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tra Nhiệt Độ Nóng Chảy Của Kim Loại Phổ Biến Đồng, Sắt, Nhôm, Vàng; Chì, Thép…..
  • Công Nghệ Nấu Chảy Hợp Kim Đồng Và Đồng
  • Cách Nấu Món Cá Rô Đồng Kho Cho Ngày Đông
  • Cách Nấu Cháo Cua Đồng Cho Bé Cao Lớn, Thông Minh Vượt Trội
  • Lò Nấu Chảy Cao Tần Dùng Điện
  • Các Phương Pháp Nấu Ăn Ngon Cho Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp 17+ Món Ăn Sử Dụng Bột Phô Mai
  • Tải Ít Master Chef Nhà Hàng Thực Phẩm Nấu Ăn Chơi Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Những Điều Bạn Chưa Biết Và Cách Nấu Món Mì Quảng Ngon
  • Bí Quyết Nấu Ăn Ngon Của Đầu Bếp Nổi Tiếng
  • Bí Quyết Nấu Ăn Ngon Của Một Đầu Bếp Giỏi
  • Để hoàn thành một món ăn đậm đà và đặc sắc về hình thức lẫn hương vị thì người nấu phải có phương pháp nấu ăn ngon theo những cách của riêng họ. Hôm nay, Cuốn sẽ chia sẻ với các bạn một số mẹo vặt nấu ăn để tạo nên sự đặc biệt riêng cho các bữa cơm gia đình.

    Chế biến thực phẩm đông lạnh

    Đối với thực phẩm cho vào ngăn đông thời gian khác dài thì khi nấu, chúng ta nhất thiết phải rã đông từ từ (Còn nếu bạn không có thời gian chờ đợi thì có thể cho vào lò vi sóng). Thực phẩm sau khi rã đông vẫn còn tươi ngon và đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng chị em phụ nữ cần lưu ý, bất kỳ thực phẩm nào sau khi rã đông thì phải chế biến ngay lập tức, đừng bao giờ để đông lại lần thứ hai. Đây là một trong những phương pháp nấu ăn ngon đầu tiên mà Cuốn muốn giới thiệu đến các bạn.

    Bất kỳ món ăn nào cũng vậy, khâu ướp nguyên liệu rất quan trọng. Thông thường trong các bữa cơm hàng ngày của gia đình, chúng ta thường ướp muối để nướng thịt, nướng cá. Điều này sẽ là mất đi lượng nước có trong đồ cần nướng. Vậy nên phương pháp nấu ăn ngon khi ướp nguyên liệu là trộn nhiều hỗn hợp gia vị khácc như nước tương, dầu ăn, hành, tỏi, tiêu, dầu hào,…

    Bí quyết nấu ăn ngon vừa vị

    Trong quá trình nấu, vấn đề đáng lưu ý nhất là việc nêm nếm gia vị. Lưu ý đừng cho một lúc tất cả các gia vị vào mà nên tuân theo một quy luật nhất định. Loại gia vị nào nhanh thấm thì cho vào sau cùng, loại gia vị nào lâu thấm thì cho vào trước. Chẳng hạn như, món ăn đó cần nêm đường và muối thì cho đường vào trước rồi hãy cho muối sau, tiếp theo là các loại gia vị khácc theo thứ tự lần lượt là giấm – nước tương – nước mắm – bột ngọt – tiêu.

    Phương pháp nấu ăn ngon mà Cuốn muốn nhắc đến ở cuối bài là nước sốt gia vị. Trong quá trình nấu, không ít chị em phụ nữ quên nêm gia vị quan trọng hoặc nêm không đúng quy định, dẫn đến món ăn không hấp dẫn. Vậy nên nước sốt gia vị trước khi nấu sẽ là lựa chọn lý tưởng hỗ trợ những thiếu sót khi nấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chế Biến Những Món Ăn Ngon Từ Cà Pháo
  • 15 Món Ngon Từ Cà Tím, Cách Chế Biến Cà Tím Như Cà Tím Xào Thịt Bò, Cà Tím Om Thịt Ba Chỉ
  • Vợ Lý Hải Gợi Ý 12 Cách Nấu Mì Tôm Ngon, Không Lo Ngán
  • 5 Cách Nấu Mì Tôm Vừa Lạ Vừa Ngon Thần Sầu, Ai Cũng Thích Mê
  • Nấu Ăn Nhàn Tênh Với Lò Nướng Bosch
  • Các Phương Pháp Nấu Ăn Có Lợi Cho Sức Khỏe

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Phẩm Chế Biến Là Gì? 5 Cách Hạn Chế Sử Dụng Thực Phẩm Chế Biến
  • Tự Nấu Ăn, Tại Sao Không?
  • Lợi Ích Của Việc Có Thể Tự Nấu Ăn Là Gì!
  • Khi Nấu Ăn Không Chỉ Là Nấu Và Ăn
  • Nấu Lẩu Tom Yum Cốt Dừa Chuẩn Vị Thái
  • Trong các nguyên tắc quan trọng nhất khi chế biến thực phẩm thì việc tránh sử dụng quá nhiều dầu, mỡ được ưu tiên hơn cả.

    Nướng

    Nướng là phương pháp sử dụng trực tiếp sức nóng của than, củi … để biến thực phẩm sống thành thực phẩm chín.

    Món nướng là món hấp dẫn và có từ lâu đời nhất. Nó giúp loại bỏ bớt các chất béo dư thừa trong thực phẩm và hạn chế sử dụng dầu ăn. Gần như mọi loại thực phẩm cũng đều có thể làm chín theo phương pháp này.

    Hiện nay các phương pháp nướng đã phát triển rất phong phú cả về cấu tạo món ăn hay cách chế biến. Đơn giản nhất như áp dụng cho các bữa tiệc tại gia hoặc ví tiền rủng rỉnh hơn 1 chút bạn có thể tham khảo các chuỗi BBQ đã phủ sóng toàn cầu.

    Hấp – Tần

    Hấp là phương pháp đưa thực phẩm đã được tẩm ướp hoặc xào rán qua vào dụng cụ riêng như lồng hấp, nồi hơi… sau đó dùng sức nóng của hơi nước với thời gian vừa đủ để giúp thực phẩm chín mềm.

    Phương pháp tần khá giống với hấp nhưng chỉ thích hợp với các thực phẩm non , mềm, có chọn lọc.

    Đây là phương pháp đơn giản nhất, gần như có thể sử dụng cho mọi loại thực phẩm. Chế biến thực phẩm theo cách này có thể bảo quản được chất dinh dưỡng và mang lại hương vị thơm ngon cho món ăn. Với phương pháp này thức ăn sẽ không bị nấu quá chín hoặc bị cháy, hạn chế hàm lượng chất béo trong đồ ăn.

    Một số thực phẩm phổ biến sử dụng phương pháp chế biến này: bánh bao, bánh flan, cá, gà …

    Chúng tôi hiện đang cung cấp gà đôi Tây Bắc, rất thích hợp cho món gà tần tuyệt ngon. Quét mã bằng điện thoại hoặc nhấn vào liên kết

    Xào

    Là phương pháp nấu chín với 1 ít chất béo, nước với thời gian làm chín nhanh ở nhiệt độ cao, nhằm đạt yêu cầu chín tới.

    Các món phổ biến áp dụng phương pháp này: thịt bò, rau cần, súp lơ, khoai tây …

    Chần

    Là phương pháp đun sôi thực phẩm trong các dung dịch lỏng như sữa, nước hoặc rượu thay vì dầu ăn. Kỹ thuật này phù hợp với các món cá, gà , trứng và những thực phẩm dễ bị cứng khi luộc.

    Thời gian chuẩn bị nhanh, ít sử dụng dầu ăn, chất béo và thích hợp với các món ăn không rau.

    Om

    Là phương pháp bỏ thực phẩm đã được xào (hoặc rán qua) vào nồi với 1 ít nước và đậy vung kín, đun với nhiệt độ thấp, nhằm giúp cho thực phẩm và gia vị quyện mùi, chín mềm và tiết ra hỗn hợp nước sốt đặc thơm ngon.

    Các món chủ yếu như dưa chua, thịt bò, chuối đậu, dưa cá, dưa thịt ba chỉ …

    Quay

    Là phương pháp làm chín thực phẩm bằng nhiệt từ lò phát ra. Lò quay tốt nhất nên được thiết kế nằm ngang, phía dưới có chảo hứng để khi quay lượng chất béo trong thực phẩm chảy nhỏ giọt ra ngoài. Ngoài ra, cần thường xuyên quét dầu ô liu lên thực phẩm nhằm chống cháy cho món ăn.

    Giống phương pháp nướng, lợi ích của việc chế biến này là loại bỏ được chất béo dư thừa và hạn chế tối thiểu lượng dầu ăn.

    Nộm

    Là món ăn được chế biến chủ yếu từ rau củ phối hợp với vài loại thịt, gia vị có đặc tính riêng để tạo nên mùi vị tổng hợp và có màu sắc hấp dẫn

    Các món phổ biến về nộm như sứa, gà, bò khô, hoa chuối, rau muống, xoài …

    Một số lời khuyên trong kỹ thuật nấu nướng

    • Với các món nướng, xào nên sử dụng chảo chống dính để hạn chế lượng dầu ăn cần dùng.
    • Giảm 1 nửa lượng muối trong món ăn và thay thế bằng các loại thảo mộc, nước chanh hoặc giấm…
    • Nên dùng dầu ô liu, dầu thực vật thay cho dầu động vật
    • Thay thế nước sốt hoặc nước thịt đậm đặc bằng nước sốt rau củ và sốt tương ớt
    • Chọn trái cây thay cho các món bánh ngọt
    • Hấp rau xanh thay vì luộc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kidsoft Phần Mềm Quản Lý Dinh Dưỡng Mầm Non Chuyên Nghiệp Nhất
  • Kỹ Thuật Cơ Bản Về Chế Biến Món Ăn
  • Những Cách Nấu Biến Đồ Ăn Thành “thuốc Độc”, Hầu Như Người Việt Nào Cũng Mắc
  • Nếu Nhà Bạn Vẫn Còn Dùng Nồi Nhôm Nấu Nướng, Hãy Bỏ Ngay!
  • Nhóm Nấu Ăn Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Phương Pháp Chế Biến Các Món Ăn Ngon Từ Dê

    --- Bài mới hơn ---

  • Vào Bếp Nấu Ngay Món Cháo Gan Dê Bài Thuốc Chữa Bệnh Cận Thị
  • Bí Quyết Làm Món Sườn Dê Nướng Tảng Thơm Ngon Đến Miếng Cuối Cùng
  • Vú Dê ( Nầm Dê) Thật 100%
  • Cách Làm 5 Loại Gỏi
  • Xương Dê Hầm Đậu Đen
  • 1 – THỊT DÊ HẤP TÍA TÔ

    Nguyên liệu:

    – Thịt dê phi lê: 300 g, thái mỏng vừa – Lá tía tô: một nắm, thái làm nhỏ vừa

    – Sả: 1 củ, thái lát mỏng – Ớt sừng: nửa quả

    – Sa tế: nửa thìa cả phê – Gừng: một nhánh nhỏ, thái chỉ

    – Gia vị: bột ngọt, hạt nêm, tiêu xay, và chút xíu đường.

    Cách làm:

    – Ướp thịt dê với nửa thìa bột ngọt, 1/3 thìa hạt nêm, tiêu, sa tế, chút đường, để khoảng nửa tiếng.

    – Khi hấp thì lót sả bên dưới, rồi tới thịt dê, trên cùng là lá tía tô, đem hấp cách thủy tới khi chín.

    – Cọng sả còn thừa có thể cho luôn vào nước hấp cho thơm.

    – Khi thịt chín có thể rưới thêm chút mỡ tỏi lên trên cho dậy mùi.

    2 – THỊT DÊ NƯỚNG CHAO

    Nguyên liệu:

    – Thịt dê: 500 gr – Chao: 2 cục

    – Đường: nửa thìa canh – Bột ngọt: ½ thìa cà phê

    – Ớt satế : 1 thìa cà phê – Tỏi xay : 1 thìa cà phê

    – Dầu điều: 1 thìa cà phê – Đậu bắp

    Cách làm:

    – Lấy chao ra bát nhỏ, bóp nhuyễn, cho đường, bột ngọt, tỏi, sa tế, dầu điều vào trộn đều. Đem ướp lên thịt dê, để một lúc cho ngấm gia vị.

    – Đem thịt dê và đậu bắp kẹp vào vỉ, nướng trên than hoa. Vì thịt đã thái mỏng nên rất nhanh chín, khoảng 7 – 10 phút là được.

    3 – THỊT DÊ XÀO SẢ ỚT

    Nguyên liệu:

    – Thịt dê: 300 g, thái mỏng, to bản

    – Ớt chuông xanh: 1/2 quả, bỏ hột, thái miếng vừa ăn

    – Ớt sừng đỏ: ½ quả, bỏ hạt, thải mỏng

    – Hành tây: nửa củ nhỏ, bổ múi cam

    – Sả: 3 củ; một đập dập + băm nhỏ, 2 củ thái mỏng

    – Sa tế: nửa thìa cà phê

    – Gia vị: ½ thìa canh bột ngọt, 1 thìa cà phê hạt nêm, nửa thìa cà phê đường, tiêu.

    – Dầu ăn

    – Dầu điều

    Cách làm:

    – Ướp thịt dê với 1/2 lượng sả băm, chút bột ngọt, nước tương trong khoảng nửa giờ.

    – Đun nóng dầu ăn, cho sả thái mỏng vào chiên giòn, vớt ra để ráo dầu.

    – Làm nóng dầu ăn, cho nốt chỗ sả bằm còn lại vào đảo cho thơm, cho thịt dê đã ướp vào, bật lửa lớn, đảo nhanh tay, sau đó cho ớt xanh, ớt đỏ, hành tây vào đảo đều, nêm thêm chút hạt nêm và nước tương, bột ngọt, chút xíu nước cho tan và ngấm đều gia vị. Khi nước vừa cạn thì cho sả chiên giòn vào, đảo thêm mấy cái là được. Cho ra đĩa, rắc tiêu, ngò lên trên, chấm cùng nước tương.

    4 – DÊ NHÚNG MẺ

    Nguyên liệu làm món này:

    • 800gr thịt dê
    • 500gr bún tươi
    • 1 quả trứng gà
    • Bánh tráng cuốn và rau sống ăn kèm
    • Dưa leo, cà chua
    • Một nửa quả dứa
    • Chuối xanh, quả khế xanh
    • 1 củ hành tây, hành tím băm nhỏ
    • 2 Sả cây
    • 1 thìa súp mẻ
    • 1 thìa súp mắm nêm
    • 2 thìa súp dầu ăn
    • Xà lách, rau thơm, ớt băm, tỏi băm
    • Gia vị nêm nếm: Muối, đường, hạt nêm.

    5 – CHÂN DÊ HẦM THUỐC BẮC

    Nguyên liệu:

    • Chân dê: 4 cái
    • Nước xương: 2 lít
    • Câu kỷ tử. đẳng sâm, trái táo đỏ, hoài sơn, đậu hủ ky dạng cây
    • Hành tím: 5 củ
    • Tỏi bằm: 2 tép
    • Gừng: 1gram
    • Gia vị: đường, muối, bột ngọt, nước tương, ngũ vị hương
    • Rau: Rau mồng tơi, Cải xanh, cần nước
    • Mì tôm hoặc bún lá

    Cách chế biến:

    • Thịt dê mang thui trên lửa cho lớp da vàng rồi cạo rửa sạch sẽ,chặt miếng
    • Dùng 1 cái tô cho củ hành trắng băm nhỏ, tỏi, tương hột, chao vào trộn đều cho thành hổn hợp, sau đó mang ướp vào phần thịt dê đã chặt, nêm muối và ít đường, để 1h cho thấm.
    • Gừng cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài rửa sạch đập dập
    • Đảng sâm ngâm nước cho mềm rồi cắt lát.
    • Đậu hủ ky ngâm nước cho nở, còn đậu hủ chiên thì cắt miếng, mía lau cạo sơ bên ngoài vỏ chẻ nhỏ, tía tô cắt sợi.
    • Cho chảo lên bếp cho vào tí xíu dầu đợi nóng, rồi cho gừng vô xào thơm,sau đó trút thịt dê vô xào cho thật thơm rồi rưới rượu vào đảo đều,xúc phần thịt này cho vào nồi hay thố đất,cho nước dùng gà và mía lau cùng tất cả mấy loại thuốc bắc vào (trừ hạt câu kỷ)đ ậy nấp nấu cho sôi bùng,vớt bọt vặn nhỏ lửa nấu từ từ.
    • Khi thịt dê gần mềm thì cho hủ ky và đậu hủ chiên vào, nấu tiếp đến khi thịt dê mềm rồi cho hạt câu kỷ vào, nêm nếm lại cho vừa ăn

    Món này chấm với chao tán nhuyễn và tía tô cắt sợi, nhúng kèm với các loại rau tùy thích

    6 – NẦM DÊ NƯỚNG SẢ

    – Nầm dê: 500 gam

    – Sả: 50 gam

    – Hành tím: 50 gam

    – Tỏi: 50 gam

    – Chao trắng: 1 hũ

    – 1 gói ngũ vị hương

    – 1 nửa quả chanh

    – Các gia vị: sa tế tôm, dầu hào, hạt điều, màu điều, tương ớt, hạt tiêu.

    Các bước thực hiện:

    Bước 1: Nầm dê mua về thì các bạn hãy rửa sạch để ráo nước rồi thái thành những miếng mỏng vừa ăn.

    Bước 2: Tỏi, hành tím, sả bóc vỏ rồi băm nhỏ cho vào 1 cái tô. Bạn hãy cho 2/3 số tỏi băm vào tô còn số còn lại bạn hãy để riêng. Tiếp theo bạn hãy cho thêm vào tô ngũ vị hương, 1 ít dầu điều, 2 viên chao, 1 thìa cà phê dầu hào, tương ớt, sa tế (các bạn hãy điều chỉnh mức sao cho có độ cay phù hợp với khẩu vị của gia đình), 1 nửa thìa cà phê hạt tiêu rồi dùng đũa khuấy thật để để khoảng 10 phút.

    Bước 3: Khi hỗn hợp đã xong thì bạn hãy rưới từ từ hỗn hợp đã pha chế vào nầm dê trộn đều rồi để ướp khoảng 20 phút cho các gia vị sẽ ngấm đều vào nầm dê.

    Bước 4: Để khoảng 20 phút thì các bạn hãy cho nầm dê ra vỉ nướng rồi cho vào bếp than hoa để nướng chín. Khi nướng các bạn hãy nhớ lật đều các mặt để nầm dê chín đều mà không bị cháy. Khi thịt dê đã nướng chín và vàng đều 2 mặt thì bạn hãy xếp thịt ra 1 cái đĩa. Sau đó bạn hãy rắc thêm chút vừng rang lên trên đĩa nầm dê nướng sả để trang trí cho món ăn đẹp mắt hơn.

    Bước 5: Để món nầm dê nướng thơm ngon và hấp dẫn hơn thì các bạn cần phải chú ý đến nước chấm: bạn hãy lấy 1 viên chao với ít nước chao dầm nhuyễn ra 1 cái bát rồi sau đó bạn hãy lấy 1 cái chảo sạch cho số tỏi còn lại phi thơm rồi cho chao vào trong chảo xào cho đến khi chao sôi nổi bọt lăn tăn thì bạn hãy tắt bếp rồi trút chao ra bát để nguội, rồi bạn hãy vắt thêm nửa quả chanh và thêm ít đường vào. (tùy theo khẩu vị của gia đình mà bạn điều chỉnh độ chua ngọt sao cho phù hợp) nếu thích ăn cay thì các bạn hãy cho thêm tương ớt hay sa tế vào nước chấm để tạo vị cay phù hợp cho món nầm dê nướng sả.

    Như vậy là các bạn đã có món nầm dê nướng sả thơm ngon cho cả nhà cùng thưởng thức.

    7 – DÊ HẦM NGŨ VỊ

    Chuẩn bị:

    – 200gr khoai tây;

    – 150 gr cà rốt gọt vỏ xắt miếng vừa ăn.

    – 1/2kg thịt nạc dê

    – 10gr ngũ vị hương + 2 muỗng súp xì dầu ngon

    – 30gr gừng giã dập + 1/3 muỗng cà phê tiêu + 1/2 muỗng cà phê muối

    – Dầu ăn

    – Rượu trắng ngon (gin, vodka, white wine…),

    Thực hiện:

    Chiên vàng khoai tây và cà rốt với chảo nhiều dầu, vớt ra để ráo dầu.

    – Thịt nạc dê cắt miếng vuông 3cm. Ướp trộn thịt trong nồi kim loại với: ngũ vị hương + xì dầu ngon + gừng giã dập + tiêu + muối. Để qua 40 phút, cho vào 3 muỗng súp dầu ăn, xào nhỏ lửa cho thịt thật săn, vàng mặt thịt rồi châm nước sôi vào cao hơn mặt thịt khoảng lóng tay, thêm vào 20cc rượu trắng ngon (gin, vodka, white wine…), hầm nhỏ lửa, khi thịt bắt đầu mềm cho cà rốt vào trước nấu trong khoảng 5 phút, cho khoai vào tiếp nấu trong 2 – 3 phút nữa, nước còn sấp mặt thịt là được.

    – Ăn kèm bánh mì nóng với muối tiêu.

    – Lưu ý ở món này, cà rốt và khoai đã chiên chín, không cần nấu quá lâu.

    – Để ý khi hầm thịt đừng để lửa cao quá, nước hầm sẽ bị cạn nhanh, canh chừng để châm thêm chút nước sôi vừa đủ cho nứơc hầm luôn sấp mặt thịt khi nấu xong.

    DÊ NƯỚNG NGŨ VỊ HƯƠNG

    Nguyên Liệu:

    – 350gr thịt dê.

    – 2 củ hành tây.

    – 3 cọng hành lá.

    – 3 thìa súp sa tế.

    – 2 thìa cà phê tỏi xay.

    – 2 thìa cà phê bột nêm.

    – 2 thìa cà phê đường cát trắng.

    – Dầu ăn, rượu trắng, chao pha ngọt, vừng/mè rang vàng.

    Thực Hiện :

    – Thịt dê xắt miếng vừa ăn. Dùng rượu trắng rửa sơ qua cho bớt mùi hăng.

    – Ướp với tỏi, sa tế, bột nêm, đường và ít dầu ăn. Để khoảng 20 phút cho thấm.

    – Hành tây thái múi cam, cắt khúc hành lá.

    – Chắt và để riêng phần nước tiết ra khi ướp thịt để thịt được ráo. Xếp thịt dê lên vỉ, nướng đều.

    – Xào phần nước ướp cùng hành tây và hành lá.

    DÊ XỨ DỪA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Món Sườn Dê Chiên Sả Vị Ngọt Tính Ấm Công Dụng Bổ Huyết
  • Cách Làm Món Lạc Rang Muối Để Được Lâu, Béo Ngậy
  • Thịt Dê Móc Hàm Nguyên Con
  • Dinh Dưỡng Từ Món Đùi Dê Quay Lu
  • Dê Nguyên Con Móc Hàm (Có Đầu Chân)
  • Từ Vựng Tiếng Anh Nhà Hàng Về Các Phương Pháp Nấu Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Ăn Dặm Cho Bé 8 Tháng Tuổi Con Khoẻ, Mẹ Vui
  • Cách Nấu Ăn Dặm Kiểu Nhật Đầy Đủ Dinh Dưỡng
  • Trung Tâm Dạy Nấu Ăn Ở Hà Nội Uy Tín, Chất Lượng Nhất
  • Khóa Học Bếp Trưởng Bếp Hàn Tại
  • Tải Trò Chơi Nấu Ăn Biryani Express Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • add: thêm, bỏ một nguyên liệu, gia vị vào chung với các nguyên liệu khác

    bake: làm chín thức ăn bằng lò; nướng lò, đút lò.

    barbecue: nướng (thịt) bằng vỉ nướng và than.

    beat: động tác trộn nhanh và liên tục, thường dùng cho việc đánh trứng

    boil: nấu sôi (đối với nước) và luộc (đối với nguyên liệu khác).

    break: bẻ, làm nguyên liệu vỡ ra thành từng miếng nhỏ.

    broil: làm chín thức ăn bằng nhiệt độ cao; nướng, hun.

    carve: thái thịt thành lát.

    chop: cắt (thường là rau củ) thành từng miếng nhỏ.

    combine: kết hợp 2 hay nhiều nguyên liệu với nhau.

    cook: làm chín thức ăn nói chung.

    crush: (thường dùng cho hành, tỏi) giã, băm nhỏ, nghiền

    cut: cắt

    fry: làm chín thức ăn bằng dầu, mỡ; chiên, rán

    grate: bào nguyên liệu trên một bề mặt nhám để tạo thành những mảnh vụn nhỏ (thường dùng cho phô mai, đá…)

    grease: trộn với dầu, mỡ hoặc bơ.

    grill: nướng nguyên liệu bằng vỉ (gần giống như barbecue)

    knead: chỉ động tác ấn nén nguyên liệu xuống để trải mỏng chúng ra, thường dùng cho việc nhào bột.

    mix: trộn lẫn 2 hay nhiều nguyên liệu bằng muỗng hoặc máy trộn.

    measure: đong, đo lượng nguyên liệu cần thiết.

    melt: làm chảy nguyên liệu bằng cách tác động nhiệt độ lớn vào chúng.

    microwave: làm nóng thức ăn bằng lò vi sóng.

    mince: băm hoặc xay nhuyễn (thường dùng cho thịt)

    open: mở nắp hộp hay can.

    peel: lột vỏ, gọt vỏ của trái cây hay rau củ.

    pour: đổ, rót; vận chuyển chất lỏng từ vật chứa này sang vật chứa khác

    put: đặt một nguyên liệu hay thức ăn nào đó vào một vị trí nhất định

    roast: quay, làm chín thức ăn bằng lò hoặc trực tiếp bằng lửa.

    sauté: phương pháp làm chín thức ăn bằng cách đặt nhanh chúng vào chảo dầu đang sôi; xào qua, áp chảo.

    scramble: trộn lẫn lòng đỏ và lòng trắng trứng với nhau khi chiên trên chảo nóng, bác trứng.

    slice: cắt nguyên liệu thành lát.

    steam: hấp cách thủy; đặt thức ăn phía trên nước được nấu sôi. Hơi nước sôi bốc lên sẽ giúp làm chín thức ăn.

    stir: khuấy; trộn các nguyên liệu bằng cách đảo muỗng đi theo một quỹ đạo hình tròn.

    stir fry: xào, làm chín thức ăn bằng cách đảo nhanh chúng trên chảo dầu nóng.

    wash: rửa (nguyên liệu)

    weigh: cân (khối lượng) của vật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nấu Ăn Dễ Dàng Với Nồi Chiên Không Dầu
  • Cách Nấu Ăn Dặm Cho Bé 8 Tháng
  • Top 10 Loại Lá Xông Cho Bà Đẻ : Cách Làm Và Những Lưu Ý
  • Món Ngon Cho Bé 1 Tuổi Biếng Ăn Mà Vẫn Đủ Chất, Mẹ Nên Tham Khảo Ngay
  • Chia Sẻ Các Cách Nấu Ăn Ngon Cho Bé Từ 1
  • Ăn Chay Thực Dưỡng Là Gì? Các Phương Pháp Ăn Chay Thực Dưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Đơn Thực Dưỡng Ohsawa Dành Cho Những Người Ăn Chay Trường
  • Tổng Hợp Các Món Chay Ngon Dễ Làm, Ngon Miệng
  • Tổng Hợp Những Món Chay Ngon Dễ Làm
  • Ngủ Mơ Thấy Mình Nấu Ăn Là Điềm Báo Gì? Hên Hay Xui
  • Giải Mã Giấc Mơ Nấu Ăn
  • Được xem là hình thức ăn uống mang lại những lợi ích thiết thực về sức khỏe cũng như tình thần, ăn chay thực dưỡng hiện là phương pháp được nhiều người áp dụng thực hành. Ăn chay thực dưỡng là gì, ăn chay thực dưỡng có những loại nào…hãy tham khảo bài viết sau để có đáp án chính xác.

    1. Ăn chay thực dưỡng là gì?

    Từ xa xưa, người ta đã áp dụng hình thức ăn chay thực dưỡng để cải thiện sức khỏe, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng. Ăn chay thực dưỡng là chế độ ăn uống thanh đạm nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng từ các thực phẩm có nguồn gốc thực phẩm, tuyệt đối tránh thực phẩm nguồn gốc động vật, có sự sống. Đây là chế độ ăn chay đúng đắn mang đến cho người ăn chay sức khỏe thể chất cũng như sự thanh tịnh trong tâm hồn.

    • Ăn chậm, nhai càng kỹ càng tốt, ăn nhiều theo ý của mình.
    • Uống nhiều nước và uống nước khi nào thấy khát.
    • Tránh ăn uống quá nhiều, hãy chủ động rời bàn ăn trước khi cảm thấy no.
    • Tránh sử dụng thực phẩm chế biến bằng sóng điện từ như lò vi sóng.
    • Ăn thực phẩm đúng mùa, rõ nguồn gốc.
    • Vận động hàng ngày, chịu khó tập thể dục, tắm nắng.

    Ăn chay thực dưỡng với chế độ ăn uống lành mạnh đảm bảo dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể hiện đang được nhiều người thực hành. Đặc biệt một số cá nhân sử dụng làm công tác chữa bệnh và đã mang lại hiệu quả nhất định.

    2. Các loại ăn chay thực dưỡng phổ biến hiện nay

    Dưới góc độ khoa học, ăn chay thực dưỡng là chế độ ăn những thành phần thực phẩm về cơ bản là tốt cho sức khỏe như ngũ cốc nguyên cám và rau củ – trọng tâm của chế độ thực dưỡng, được cho thấy góp phần làm giảm nguy cơ nhiều loại ung thư như: ung thư đại trực tràng, dạ dày và nội mạc tử cung.

    – Ăn chay organic ( ăn chay xanh, sạch)

    Thức ăn hữu cơ (organic food) là thực phẩm được nuôi trồng các loại động – thực vật mà không dùng bất kỳ loại hóa chất tăng trưởng, kích thích hay thuốc trừ sâu. Đây là một xu hướng thực phẩm gần đây của thế giới. Tại Việt nam, xu hướng này được một số nhà hàng, quán ăn chay sử dụng, thu hút rất nhiều thực khách.

    – Ăn chay dinh dưỡng Ấn Độ

    Ấn Độ là đất nước sở hữu nền văn hóa lâu đời và có những nét đặc trưng riêng. Được biết đến là xứ sở tôn giáo do vậy những phong tục tập quán của họ rất đa dạng. Ăn chay là một hình thức văn hóa quen thuộc với người dân nơi đây. Trước đây thực hành chế độ ăn chay với mục đích thanh lọc tâm hồn theo quan điểm nhà Phật hướng đến lòng từ bi. Ngày nay, ăn chay đối trở nên thịnh hành với người dân Ấn Độ, đây được xem là một cách để bảo vệ sức khỏe và tăng tuổi thọ.

    Ăn chay theo phương pháp thực dưỡng Ohsawa áp dụng chế độ dinh dưỡng theo tỉ lệ nhất định:

    • 50 -60% từ ngũ cốc như gạo lứt, yến mạch, lúa mì…
    • 20 -30% từ rau củ quả
    • 5 -10% từ rong biển, các loại đậu đỗ
    • 5% còn lại từ hoa quả, các thức ăn có nguồn gốc từ động vật.

    Qua bài viết, mong bạn đã hiểu hơn về thông tin ăn chay thực dưỡng là gì? Các loại ăn chay thực dưỡng phổ biến tốt cho sức khỏe. Từ đó hãy vận dụng khéo léo hình thức ăn uống này vào chế độ ăn chay trường để có sức khỏe dồi dào, tâm tịnh an vui.

    An Nhiên – Đam mê ẩm thực chay, kiến thức chay và phật pháp. Tôi tạo website này muốn chia sẻ tới mọi người kiến thức ăn chay, cách làm món chay ngon nhất..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ăn Chay Thực Dưỡng: Giải Pháp Cho Khỏe Mạnh & Hạnh Phúc
  • Tổng Hợp Các Món Ăn Chay Thường Ngày Đơn Giản, Dễ Làm Tại Nhà
  • Nấu Ăn Chay Đúng Cách
  • Ăn Chay Đúng Cách, Cơ Thể Khỏe Mạnh
  • Tên Món Ăn Việt Nam Bằng Tiếng Anh (Trong Thực Đơn Nhà Hàng)
  • Phương Pháp Ăn Chay Đúng Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Ăn Chay Đúng Cách Cho Người Mới Bắt Đầu
  • 10 Cách Ăn Chay Đúng Cách Để Thân Thể Ít Bệnh Tật 2022
  • Tổng Hợp Món Ăn Chay Hàng Ngày Vừa Ngon Miệng Lại Vừa Dễ Làm
  • Thực Đơn Hàng Ngày Bằng Việc Ăn Chay Giúp Người Cao Tuổi Khỏe Mạnh
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Thực Đơn Ăn Chay Hàng Ngày Tốt Cho Sức Khỏe
  • Không chỉ riêng giới tu hành, ngày càng có nhiều người ăn chay để sống khỏe, giúp cho tâm thanh tịnh, an vui… Tuy nhiên, ăn chay như thế nào để khoa học và đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, bạn cần biết áp dụng những phương pháp ăn chay đúng cách.

    Ăn chay đúng cách mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời

    Tác dụng của ăn chay đúng cách

    Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh rằng, ắp dụng các phương pháp ăn chay đúng cách sẽ mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khoẻ.

    Khác với các chế độ ăn thông thường, ăn chay có tác dụng chống oxy hóa, giảm hàm lượng cholesterol trong máu và giúp ngăn ngừa được nhiều loại bệnh như: tim mạch, ung thư, bệnh tiểu đường, béo phì, cao huyết áp, táo bón… nhờ chứa ít cholesterol, chất béo và giàu các loại vitamin C, E…

    Ăn chay đúng cách giúp phòng bệnh, sức khỏe tốt và tăng tuổi thọ

    Ăn chay đúng cách cũng giúp cơ thể cân đối khỏe mạnh, vóc dáng thon thả, làn da khỏe đẹp nhờ nguồn thực phẩm rau củ quả cung cấp nhiều chất xơ, vitamin… giúp hệ tiêu hoá hoạt động tốt mà không phải lo ngại năng lượng thừa tích trữ thành mỡ trong cơ thể. Bên cạnh đó, hầu hết thực phẩm chay đều có giá thành rẻ hơn nhiều so với thịt, cá, tôm, cua… nên giúp bạn tiết kiệm khá tốt.

    Về tâm linh, ăn chay chính là một trong những cách giúp con người rèn luyện bản thân để hướng đến những giá trị nhân bản của cuộc sống. Ngoài ra, người ta tìm đến những bữa ăn chay không chỉ là thưởng thức những món ăn đặc biệt, thanh đạm mà còn là sự trải nghiệm, để lắng nghe những câu chuyện về Phật giáo, về nhân quả, học cách lắng nghe để cảm nhận, để chiêm nghiệm lại cuộc đời, chiêm nghiệm bản thân. Từ đó tìm cho mình một con đường đi đúng đắn hơn, giúp cho tâm hồn trở nên thanh sạch, an yên.

    Các phương pháp ăn chay đúng cách

    Người ăn chay nên khéo léo cân đối các thành phần dưỡng chất bằng việc lựa chọn, kết hợp và chế biến đa dạng thực phẩm trong bữa ăn chay gồm đầy đủ các nhóm thực phẩm như: Đạm (các loại đậu đậu nành, đậu xanh… và các chế phẩm từ đậu nành; các sản phẩm từ sữa; quả, hạt khô…); Tinh bột (gạo, bột mì…); Chất béo (dầu ăn thực vật , trái cây, hạt như: bơ, dừa, hạt bí, hạt dẻ, hạt hướng dương…); Canxi (bông cải xanh, cải xoăn; tảo và rong biển các loại; các sản phẩm từ sữa như: sữa tươi, sữa chua, bơ, phô mai…); Sắt và kẽm (cải xoăn, cải bắp, cải bó xôi, các loại hạt khô, các loại đậu; trái cây và trái cây khô, ngũ cốc…); Vitamin (cà rốt, bí ngô, đậu xanh, đậu đỏ, rau dền, xoài, đu đủ, chanh, cam, quít, đậu phộng…)…

    Kết hợp và chế biến đa dạng thực phẩm trong bữa ăn chay

    Bên cạnh đó, cần lưu ý những điểm sau

    • Dùng hạn chế các loại thực phẩm có hàm lượng muối cao như: tương, chao, cải muối, dưa cải, cà muối… Đặc biệt, những người cao tuổi có tiền căn bệnh như: huyết áp, tim mạch, bệnh thận hay tiểu đường thì không nên sử dụng.
    • Không ăn thường xuyên các thực phẩm chay công nghiệp do được xử lý qua nhiều khâu nên chất dinh dưỡng bị thất thoát nhiều.
    • Bổ sung các vi chất không có trong thức ăn chay như: kẽm, vitamin B12, acid folic…bằng cách uống các vi chất này dưới dạng thuốc bổ.
    • Ngoài việc ăn đủ 3 bữa chính, bạn nên ăn thêm 2 – 3 bữa phụ như: khoai, chè, bánh, sữa… Các bữa ăn cần đa dạng và thay đổi món thường xuyên để không bị ngán.
    • Ăn chừng mực, không nên ăn quá nhiều một loại thực phẩm hoặc ăn quá ít một loại và không ăn quá no hoặc để quá đói, tránh ăn nhanh, nuốt vội.
    • Chế biến các món chay đúng cách như: không nên chiên xào quá nhiều; khi nấu hay luộc phải đậy nắp để vitamin trong rau củ không bị bay mất và nên đổ ít nước để chất bổ không bị loãng, tận dụng nước luộc làm canh; tránh nấu quá chín các loại rau xanh; đối với những thực phẩm khác, chỉ cần nấu đến khi chúng vừa chín tới…
    • Ăn các loại thực phẩm càng ít chế biến hoặc chưa chế biến càng có lợi về dinh dưỡng và uống khoảng 2 lít/ngày sẽ giúp cho thận đào thải các độc tố…
    • Kết hợp cân bằng giữa ăn uống và tập luyện thể dục thể thao.

    Để có phương pháp ăn chay đúng cách, phần lớn phụ thuộc vào cách nấu chay ngon kết hợp tập luyện thể dục sao cho cân bằng với nhu cầu của cơ thể mà không nên áp dụng một cách máy móc. Sẽ không quá khó để thực hiện nhưng đòi hỏi người ăn phải có sự kiên trì và linh hoạt thay đổi món trong khẩu phần ăn, biết cách thay thế các thực phẩm để đảm bảo đủ những dưỡng chất cần thiết cũng như chế biến món ăn thu hút giúp kích thích thị giác… từ đó phát huy tối đa hiệu quả của việc ăn chay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Quán Chay Ngon Tại Đà Nẵng Nổi Tiếng Được Thực Khách Ưa Chuộng
  • 2 Món Ăn Chay Ngon Lạ Cho Thực Đơn Thêm Phong Phú
  • Từ Ghép Trong Tiếng Anh
  • Tổng Quát 12 Thì Cơ Bản Trong Tiếng Anh
  • Từ Điển Tiếng Anh Trong Bếp: Các Loại Bột Cơ Bản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100