Top 4 # Xem Nhiều Nhất Vua Chúa Ngày Xưa Ăn Gì Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Leparkspa.com

Tìm Hiểu Các Món Ăn Của Vua Chúa Trung Hoa Ngày Xưa Thường Dùng

Ẩm thực hoàng cung Trung Quốc là sự pha trộn của nhiều nghệ thuật nấu nướng ở các vùng khác nhau. Trong đó nổi bật là ẩm thực Giang Tô và Sơn Đông. Trong hoàng cung, nơi chuẩn bị bữa ăn cho nhà vua chính là Ngự Thiện Phòng. Một nơi tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về chọn nguyên liệu, khắc khe và cầu kỳ về các quy định trong nấu ăn để phục vụ vua chúa.

Ẩm thực hay bất kỳ lĩnh vực nào thiết nghĩ cũng cần đến những luật lệ, bóng đá cũng không ngoại lệ. Nhắc đến một trong những sự kiện bóng đá Trung Quốc nổi bật không thể không nhắc đến sự có mặt thủ môn nổi tiếng Iniesta trong đội hình của đội tuyển nước này. Thủ môn của Barca đã quyết định rời đội tuyển để nhận được mức lương khủng từ Trung Quốc . Sự đóng góp của Iniesta cho Barca trong gần một thập kỷ qua là vô cùng lớn. Điều này khiến người hâm mộ vô cùng tiếc nuối. Trung Quốc đã chiêu mộ được Iniesta với mức lương được cho là ngang ngửa với huyền thoại Messi.

Sự độc đáo trong ẩm thực nước này còn được thể hiện qua tên các món ăn Trung Quốc. Đằng sau những cái tên ấn tượng đều ẩn chứa câu chuyện riêng biệt riêng nó. Tất cả dung hòa và tạo nên một nền ẩm thực tiêu biểu cho phương Đông. Những món ăn “độc, lạ” sẽ có trong bài viết này của chúng tôi đấy.

Các món ăn của vua chúa Trung Hoa có gì đặc biệt?

Mỗi triều đại Trung Hoa, các hoàng đế lại có bữa ăn khác nhau. Ví dụ như triều đại nhà Minh, hoàng đế Chu Nguyên Chương yêu cầu mỗi bữa ăn phải có những miếng thịt thật lớn. Tuy nhiên, không có nhiều hơn một chục món ăn cho bữa trưa.

Thời nhà Thanh, mỗi bữa ăn của hoàng đế có từ 20 – 40 món bao gồm: 2 loại canh hoặc cháo, 4 loại thức ăn chính cùng với những món được chế biến từ thịt lợn, cá và rau củ,… ngoài ra còn rất nhiều sơn hào hải vị và kỳ hoa dị quả.

Cơm được nấu từ gạo đặc biệt có 3 màu trắng, tía và vàng. Tùy từng địa phương mà sẽ có những món tiến vua khác nhau. Tiêu biểu như: hải sâm, xương hổ, vi cá, yến sào,…

Nghe tưởng chừng ẩm thực đời Thanh khá cầu kỳ nhưng kỳ công bậc nhất phải đến thời Từ Hy thái hậu khi mà mỗi bữa ăn của bà có hơn 100 món khác nhau. Những món ăn hoàng cung giai đoạn này đều rất quý hiếm và cầu kỳ.

Ẩm thực Trung Quốc thời Minh Thanh

Thời nhà Minh và nhà Thanh là hai thời kỳ phát triển cực thịnh của phong kiến Trung Hoa. Do vậy, các món ăn của vua chúa Trung Hoa cũng vô cùng có nhiều điểm khác so với những triều đại trước.

Các món ăn của vua chúa Trung Hoa thời nhà Minh

Ẩm thực hoàng cung giai đoạn này mang hương vị miền Nam Trung Quốc. Thời vua Chu Nguyên Chương ăn uống rất coi trọng sức khỏe.

Nhà vua ăn uống lành mạnh nhưng các món phải thay đổi mỗi ngày, không được phép lặp lại.

Các loại ngũ cốc chính là nguyên liệu chính.

Những món chay thanh đạm cũng được phát triển do thói quen ăn uống của vua nhà Minh.

Tổ yến, súp vây, tôm thượng hạng và hải sâm cá cực thịnh trong giai đoạn này.

Các món ăn của vua chúa Trung Hoa thời nhà Thanh

Mang hương vị truyền thống Mãn Châu và Sơn Đông.

Ẩm thực cung đình lúc này phân ra 2 loại: những bữa ăn thông thường của nhà vua và yến tiệc, nghi lễ.

Triều đình Mãn Hãn có đến 108 món.

Bữa tiệc hoàng cung lớn nhất trong lịch sử Trung Hoa với tên gọi Mãn Hãn Toàn Tịch phục vụ đế 6 bữa tiệc kéo dài trong vòng 3 ngày.

Bật mí những bí mật của các bữa ăn phục vụ vua chúa:

Đồ ăn thừa sẽ được vua ban cho đại thần hoặc phi tần. Người được ban thưởng phải đứng để ăn hết bữa và khen ngon dù đang nó đi chăng nữa.

Trước khi dùng bữa, thức ăn của vua sẽ được dùng đũa bạc để thử độc.

Bữa tiệc đón năm mới của hoàng cung sẽ được tổ chức tại Cung Càn Thanh. Lúc này, hoàng đế sẽ dùng bữa cùng với các phi tần của mình.

Đứng Trên Vạn Người Nhưng Vua Chúa Ngày Xưa Lại Có Khi Ăn Uống ‘Bình Dân’ Hơn Cả Hậu Thế Thời Nay

Hễ nhắc đến chuyện ăn uống chốn cung đình xưa kia, hẳn ai ai cũng mường tượng ra cảnh rường cột sơn son thiếp vàng, bát đĩa sứ tinh xảo, trên mặt bàn bóng loáng bày những món ăn xa hoa. Cao nhất thì chắc phải có “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” hay bét lắm thì cũng phải có “bát trân tứ bửu” như chân voi, tay gấu, sâm cầm… Thế nhưng chúng ta thực sự lầm to, bởi vì các vua của nước Việt Nam ta ngày xưa vẫn có những khi chẳng hề yêu cầu cao xa, càng không cầu kỳ chuyện ăn uống chút nào. Có thể thấy chuyện ăn uống của vua chúa Việt Nam ngày xưa rất đỗi “bình dân”, cụ thể là qua một số tích nhỏ sau đây:

Vua cởi áo, bỏ giày đi… bắt cá

Trong sách sử nhà Tống (Trung Quốc) ngày xưa có ghi chép lại chuyến đi sứ sang nước ta vào năm 990. Sử kể lại rằng vua chiêu đãi sứ thần tại bãi sông, vừa thưởng tiệc vừa xem múa hát, lấy trò bắt cá làm thú tiêu khiển. Giữa bữa tiệc, vua Lê Hoàn tự cởi bỏ mũ áo và giày, đi chân trần lội xuống nước đâm cá, kéo theo các quan đại thần sự tiệc cũng tự giác cởi đai, mũ, lội nước và tham gia đâm cá cùng vua. Cuối tiệc, vua còn mời sứ giả nhà Tống ăn một con trăn to, tuy nhiên sứ thần này quá hoảng sợ nên đã từ chối.

Đang chiến sự căng thẳng, có bát cơm hẩm cũng ngon

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại, mùa đông năm 1284, khi quân Nguyên lần hai xâm lược nước ta, triều đình nhà Trần đã phải bỏ kinh thành Thăng Long tìm kế quật khởi. Có lúc việc ăn uống không được tiện lợi, Trần Nhân Tông đến chiều vẫn chưa ăn cơm sáng. Lúc bấy giờ một người Lính bèn lấy gạo xấu nấu làm cơm dâng lên cho vua, lại được khen là trung thần và ban cho chức tước.

Những tưởng chiến tranh mới phải chịu cảnh giản tiện, nhưng sử sách kể lại, chuyện ăn uống của hoàng tộc nhà Trần ngày xưa cũng hết mực gần gũi, giản dị như người thường. Từ thời vua Trần Thái Tông đã có lệ, khi bãi triều thì các họ hàng, con cháu hoàng tộc đều vào trong điện cùng ăn cùng uống với nhau để bồi đắp tình cảm.

Chuyện một quả xoài suýt dẫn đến… huyết án

Muỗm, hay còn gọi là xoài hôi, có vẻ như là một loại quả ăn vặt rất được ưa chuộng thời nhà Trần. Bằng chứng là cái quả thoạt nhìn bé nhỏ như vậy thôi nhưng lại suýt nữa dẫn đến một hồi “phong ba”.

Cũng từ chuyện này mà rút ra được, nhân dân ta đúng là có truyền thống “dĩ thực vi tiên”, cái ăn phải lấy làm đầu.

Vua chỉ điểm mang quýt và rươi để… hàn gắn tình cảm

Đi đánh trận phải mang theo… mắm tôm

Đến đây mới thấy được sự bản lĩnh của các đời vua Việt, bình thường thì vẫn ăn uống sang trọng đúng với uy nghiêm đế vương, thế nhưng khi tình thế khẩn cấp thì cũng không nề hà cơm hẩm, cháo hoa. Theo như sách sử nhà Nguyễn “Đại Nam thực lục chính biên Đệ Nhất kỷ”, khi vua ở ngoài, bữa ăn không có nhiều vị mà chỉ thường dùng mắm tôm kèm với bảy vị là tiêu, ớt, hồi, quế, tỏi, gừng và ô mai. Tất cả đem tán nhỏ rồi trộn với nhau, bữa nào cũng ăn như thế. Vua cũng ban món này cho những người đi theo và nói rằng: “ăn thức ăn này tốt lắm; vả để tỏ rằng ta cùng các khanh tân khổ có nhau”.

Tạm kết:

Có thể thấy, tuy trong ấn tượng của phần lớn chúng ta, làm vua là phải ăn sơn trân hải vị, phải có đủ bát trân tứ bửu… tuy nhiên thực tế cho thấy, đế vương thì cũng là con người, và ai nấy cũng có sở thích rất riêng, rất bình dân và thậm chí là có những món truyền lại đến tận đời con cháu, tỷ như món mắm rươi ăn kèm với quả quýt đến bây giờ vẫn rất được ưa chuộng. Đã là thức ăn thì không phân sang hèn, các vua chúa Việt Nam xưa vẫn có thể tìm thấy mỹ vị trong ngay cả những món ăn giản dị nhất, có thể nói, đây đúng là đức tính đáng quý khó có thể tìm thấy trên đời.

Thời Ông Bà Ngày Xưa Mà Trời Nắng Nóng Thế Này Thì Ăn Gì?

Để khắc phục cái nóng oi bức của mùa hè, xưa kia ông bà ta thường ăn món gì mà vừa ngon, vừa không bị nóng nhỉ?

Bánh đúc lạc chấm tương

Bánh đúc lạc là một món ăn giản dị, là nét đẹp trong nền ẩm thực cổ xưa. Từng miếng bánh trắng mịn được làm bằng gạo tẻ, điểm xuyết thêm lạc và dừa, xếp ngay ngắn trên một chiếc đĩa hoặc chiếc mẹt nhỏ, sau đó ăn kèm với tương, đậm đà và dân dã vô cùng. Nhiều năm về trước, món ăn này có lẽ là thứ bánh dễ mua và dễ bán nhất trong mùa hè bởi ăn rất chắc bụng, mát mẻ và giá cũng rẻ nữa.

Trải qua nhiều năm tháng, bánh đúc được sáng tạo, biến tấu dưới nhiều hình thức mới lạ. Từ bánh đúc nóng đến bánh đúc nộm với lạc, giá và rau thơm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng dù có xuất hiện dưới hình dạng nào thì món bánh đúc lạc truyền thống chấm tương không chỉ nổi tiếng trong quá khứ mà sức hút của nó với hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu giảm nhiệt chút nào.

Ngô, khoai, sắn dây

Đời sống của ông bà khi xưa không được đủ đầy như chúng ta hiện tại, chính vì vậy những món ăn ‘thuần nông’ như ngô, khoai hay sắn dây chính là giải pháp cứu nguy cho ngày nắng nóng đỉnh điểm. Thông thường các loại thực phẩm này thường được luộc chín, sau đó để nguội và thưởng thức. Ngô và khoai có thể luộc hay nướng để món ăn hấp dẫn hơn, nhưng trong mùa hè, phương pháp luộc lại được ưa chuộng hơn.

Sắn dây được gọt vỏ, sau đó rửa với nước cho sắn trắng sạch hoàn toàn, nghiền thành miếng nhỏ, lọc và sấy khô để tạo thành bột sắn. Bột sắn thu được có thể hòa với nước và đường để giải nhiệt hoặc nấu chín. Ngày nay, những món ăn từ ngô, khoai và sắn thường được biến tấu với nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên thì hương vị của chúng vẫn không hề phai mờ theo thời gian.

Bún ốc nguội

Có một món ăn đã có từ lâu đời mà khi nhắc đến nó ta như quay lại với hoài niệm xưa cũ về một cuộc sống bình dị và êm đềm. Bún ốc nguội có lẽ là một trong số ít những món vượt qua được khoảng cách thời gian giữa các thế hệ, tồn tại vững chắc đến tận bây giờ.

Một suất bún ốc nguội trước đây thường chỉ có nước chấm là nước luộc ốc thanh nhẹ, thêm chút giấm và khoảng dăm ba con ốc, ăn kèm với một đĩa bún nhỏ. Ốc thường luộc sẵn, khi nào có khách mới được khêu vào bát để tránh bị tanh. Không hiểu vì sao với những nguyên liệu tưởng như quá đơn giản như này lại có thể tạo ra một món ăn có sức bền về thời gian đến vậy?

Cơm nắm muối vừng

Cuộc sống hiện đại này không thiếu của ngon vật lạ, những món ăn từ thời cha ông ta đôi khi đã đi vào quên lãng, để lại bao lưu luyến về một thời chắt chiu, hoài niệm. Tuy vậy, có một món đã trở thành bất hủ và không ai có thể phủ nhận vị trí của nó trong nền ẩm thực Việt cổ đó chính là cơm nắm muối vừng. Xét về mức độ giản dị có lẽ sẽ chẳng có thứ nào đơn sơ và mộc mạc đến vậy, chỉ là cơm sau khi nấu chín nắm thành từng nắm ăn kèm với muối vừng.

Khi xưa, cơm nắm muối vừng xuất hiện như một thành phần chủ đạo, là món chính trong bữa cơm gia đình, là bữa trưa của người lao động trên cánh đồng lúa mùa gặt hay góp mặt trong hành trang của dân lữ hành. Ngày nay, món ăn này vẫn luôn gắn bó với con người trong bữa sáng thanh mát, nhẹ nhàng hay là bữa lót dạ lúc chiều về. Có thể nói, dù là quá khứ êm đềm hay hiện tại sầm uất thì cái hương vị ngọt bùi của cơm nắm muối vừng chưa bao giờ bị xóa nhòa trong tâm khảm của những người con đất Việt, để lại bao thương nhớ, thiết tha hoài niệm về quá khứ.

Bánh đa kê

Trong list này không thể bỏ sót bánh đa kê. Nguyên liệu chính của món gồm có kê, đậu xanh đã bỏ vỏ, bánh đa, đường trắng và nước vôi trong. Những chiếc bánh giòn tan, ngọt ngào nơi đầu lưỡi hấp dẫn đến lạ lùng. Điều đặc biệt của món ăn là kê được nấu khá đặc và khô để giữ cho bánh đa giòn lâu hơn, hương vị bùi bùi của đậu xanh cộng hưởng với cái thanh mát của hạt kê đã tạo thành một món ăn ngon đến ngất ngây.

Bánh đa kê giúp xua đi cái nóng của mùa hè bằng tất cả sự mộc mạc vốn có. Chỉ cần thưởng thức một miếng bánh thôi thì ta như được sống lại với những năm tháng rực rỡ xa xưa, được trở về với cội nguồn gốc rễ, gặp lại người bạn ấu thơ thuở nào. Hiện nay, không còn nhiều địa chỉ bán món ăn này, đôi khi chỉ có thể bắt gặp nó trên những gánh hàng rong, tình cờ ngang qua phố phường tấp nập.

Bánh cuốn

Bánh cuốn từng được mệnh danh là món ăn tiến vua, điều gì ở nó đã tạo nên sức hút mạnh mẽ đến vậy? Ở mỗi địa phương khác nhau thường có cách chế biến riêng nhưng vẫn không làm mất đi ‘cái thần’ của món ăn. Thông thường, bánh cuốn được tráng mỏng sau đó phết một lớp mộc nhĩ lên trên ăn cùng với nước chấm chua chua cay cay mà chỉ nhắc thôi đã thấy thèm. Ngoài ra, một số nơi còn cho thêm thịt bằm cuộn cùng bánh tráng để món ăn đậm đà hơn.

Nhắc đến bánh cuốn ta thì không thể không nhắc đến những thương hiệu đã có từ lâu đời và vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ như bánh cuốn Thanh Trì – Hà Nội, bánh cuốn làng Kênh – Nam Định, bánh cuốn Hải Phòng và bánh cuốn Lạng Sơn.

Những ngày trời nắng nóng, ăn bánh cuốn thì chuẩn quá rồi, vừa no bụng mà lại không khiến bạn khó chịu vì độ nóng của món ăn rất vừa phải. Quả thật, những món ăn được truyền từ đời cha ông thế này có hương vị ngon tuyệt vời phải không bạn?

Tin Liên Quan

Cơm Tấm Của Ngày Xưa…

Gần nhà tôi ở Tân Định có quán cơm tấm lề đường. Gọi quán cho sang, chứ chỉ là cái bàn nhỏ thấp lè tè đặt ở lề đường, và 2 cái ghế dài để khách ngồi. Khách chủ yếu là học sinh ghé quán ăn sáng, trước khi đến trường cách đó chưa đầy trăm mét.

Khách toàn là học sinh nhí, nên ồn ào vui lắm. Khi đông, bọn học sinh ăn đứng hoặc ngồi chồm hổm, chìa đĩa xin thêm thứ này, thứ nọ. Ham vui nên thỉnh thoảng tôi cũng ghé ăn. Phải ăn quán lề đường như vậy tôi mới chịu, chứ mua mang về nhà thì không, dù nhà cách quán chừng 50 mét.  

Thức ăn thường là 2 lát chả trứng, hoặc bì sợi, hành mỡ, đồ chua, chan nước mắm ngọt, trộn lên với cơm tấm trong dĩa, trông cũng bắt mắt. Hạt cơm tấm nhỏ, rời rạc, chứ không dài hạt và dẻo như cơm nhà. Tôi hỏi mẹ, bà bảo đó là hạt gạo bị gãy, sàng ra để lấy hạt gạo nguyên, giá cao. Còn gạo tấm, bán giá rẻ. Nhà nghèo ăn gạo tấm, mà sao cơm tấm bì chả lại ăn ngon thế…

Cơm tấm thời này khác nhiều quá, hạt gạo dài, chứ có tấm đâu. Thỉnh thoảng cũng có quán có hạt tấm, nhưng chỉ là gạo dài lẫn tấm. Nghe nói, tấm đắt hơn gạo. Chưa hết, chả trứng còn thêm mắm thì phải, rồi trứng ốp la, sườn nướng tại chỗ, khói bay mù mịt…

Bây giờ đọc bài cơm tấm của Ngữ Yên, mới biết có thứ cơm tấm mẳn, là những hạt gạo “nhỏ con”, nhỏ tự nhiên, tấm tự nhiên chứ không phải là tấm gãy, sàng ra bán giá rẻ. Cơm tấm mẳn cách xa Sài Gòn tới cả 170 cây số, muốn thử chơi cho biết, xem có ngon bằng đĩa cơm tấm thưở xưa của tôi không, nhưng cách trở, cách ly thế này làm sao…thử.

Trước đây tôi thường đi Miền Tây, hay ghé quán cơm tấm gần chợ Long Xuyên. Cơm tấm ở đây ngon lắm. Không chừng tôi đã ăn cơm tấm mẳn rồi cũng nên.

Vũ Thế Thành

 

 

Cơm tấm mẳn cách Sài Gòn 170km

Gạo tấm mẳn là loại gạo dành cho người rất nghèo và heo nuôi “bỏ ống” của người nhà quê. Nghèo đến độ phải dành miếng ăn của heo. Là loại gạo lọt dừng xuống nia chung với sạn. Quê tôi là xứ sống nhờ nghề trồng lúa nước, nên từ nhỏ tới lớn chưa lần nào biết đến mùi cơm tấm mẳn

Gạo tấm mẳn hoàn toàn khác biệt với gạo gãy. Cơm tấm mẳn chỉ còn một điểm ở Cần Thơ – quán 1985 và một điểm ở Long Xuyên – tiệm Cây Điệp. Người ở Cần Thơ gọi cơm tấm ở quán này là ‘cơm tấm Long Xuyên’. Đó là cơm tấm tự nhiên. Ông Nguyễn An Hà, chủ quán 1985, nói ông phải đi tìm gạo tấm tự nhiên này ở tận Campuchia, qua biên giới Tịnh Biên. Cầu toàn hơn, ông còn thuê hẳn đầu bếp Long Xuyên lên Cần Thơ nấu món này. Sài Gòn cũng có một cơm tấm Cây Điệp ở đường Cao Thắng, nhưng tôi nhát không dám phiêu lưu, e tiền mất dở mang. Cơm tấm ở Sài Gòn gần như là gạo đập gãy ra rồi “rửa tội” cho nó bằng cái tên “cơm tấm”. Vậy mà cơm tấm Sài Gòn cũng nổi danh năm châu bốn bể như một món ăn đường phố tuyệt hảo. Lạ một điều là cơm tấm lại ra đời ở miền Nam, một cái vựa lúa gạo lâu đời và lớn nhất. Nghèo thôi để dân quê miền Nam phải ăn cơm tấm như ông Sơn Nam nói là không mấy chính xác. Khi giải thích nghèo đến độ phải ăn cơm tấm có lẽ là từ thời khẩn hoang mà Bình Nguyên Lộc tả lại trong truyện ngắn Rừng Mắm. Đó là cái lúc tía má thằng Cộc “bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi, kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con, rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng này đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm ổ Heo.”1

Chiếc chòi lá ấy “… quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với.”2 Xóm ổ Heo bây giờ chỉ có bốn người khiến thằng Cộc ‘thèm người’ lắm. Lúc đó rừng mắm là thứ cây chẳng làm gì được kể cả làm củi, ngoài chức năng lấn biển. Ruộng nơi tái định canh nhà Cộc chỉ khẩn được bốn công, mỗi mùa gặt có tám giạ lúa mà đến bốn miệng ăn. Lúc ấy, cả nhà chẳng những ăn cả gạo tấm mà còn cả gạo tấm mẳn. Tức loại gạo tấm rất nhỏ, nông dân thường dùng nuôi gà vịt, nấu cháo heo chung với cây lá hái quanh chỗ mình ở. Về sau những người như Cộc chắc vẫn nhớ đến cái ngon của gạo tấm khi nơi ổ Heo đã là một làng sầm uất. Cái ngon ấy như một thứ ‘mỹ học’ truyền khẩu. Truyền từ khẩu này sang khẩu khác và món ấy thịnh hành ở cái vựa lúa miền Tây. Rồi những người lái xe hàng, xe đò lan truyền món ăn bình dân này vào giới bạch đinh Sài Gòn: công chức quèn, học sinh, sinh viên, gánh nước mướn, làm thuê ăn lương công nhựt, v.v. Cơm tấm từ cô gái lọ lem thời xưa trở thành công chúa hiện nay. Chỉ là áng chừng cơm tấm mẳn lên Sài Gòn vậy thôi!

Sài Gòn vẫn còn nhiều di tích cơm tấm, như cơm tấm Hiền Vương, 114 Võ Thị Sáu, còn lưu truyền từ chả cua gọi bằng tiếng Tây là chả farci, là một loại chả độn trong vỏ cua. Hiền Vương là con đường có tên sớm nhất từ thời ông Ngô Đình Diệm về cầm quyền miền Nam. Sau này được đặt tên lại là Võ Thị Sáu, người phụ nữ linh hiển và nhiều lộc nhất ở Côn Đảo bây giờ. Nhiều người chê di tích cơm tấm Hiền Vương là ‘ăn tấm trả giặt’, một thành ngữ mà nhiều người trẻ đã không còn biết. Ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “ăn vụn vằn như gạo gãy, mà trả nguyên tiền như gạo giạt.”1 . Cho nên ý kiến “Phần ăn có chút xíu, sức bạn nam ăn là vừa quơ 5 muỗng hết sạch dĩa cơm chỉ đủ lót dạ. Giá khá cao cho 1 phần cơm tấm, đồ ăn cũng không gì đặc sắc” có lẽ là ý kiến của người chưa bị nỗi khổ do tác động của “mê cơm” và mắc nguy cơ tiểu đường loại 2. Cuộc tranh cãi ở Sài Gòn cơm tấm nào ngon là một bài “hương ca vô tận”. Dĩ nhiên cái ngon là cái bất khả tranh luận. Nó làm ta nhớ về bữa yến trong một nhà hàng Magny nổi tiếng ở Paris năm 1875. Bữa ấy do biên tập viên của tờ tạp chí của thợ săn La Chasse Illustrée khoản đãi. Bữa ấy có hai món: nước hầm xương ống chân sư tử và tim sư tử nấu theo kiểu Castellane. Trong bữa ấy không có kẻ sành ăn, chỉ có phàm phu tục tử. Họ đều cho là bữa yến ngon. Cơm tấm ngon theo ông Nguyễn Tâm, một phóng viên ẩm thực của báo Sài Gòn Tiếp Thị, là tùy thuộc vào món nước mắm thấm của từng quán. Ông từng ăn cơm tấm ở một vỉa hè TP.Bến Tre và cho là ngon hơn hết so với những món cơm tấm ở Sài Gòn mà ông từng ăn. Ngon là bất khả tranh cãi như vậy đó.

Ngữ Yên